Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Hệ thống Thần Linh Tam Phủ _Tứ Phủ (Phần 3)



V. Tứ Phủ Chầu Bà
Cũng như các vị Chúa Mường , các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ cũng là những người phụ nữ nhân đức hay các nữ tướng có công với dân với nước nên khi từ trần được nhân dân thờ phụng và được tôn thành các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ, được Vua Mẫu giao cho cai quản sông núi và mọi việc nhân gian. Hàng Tứ Phủ Chầu Bà có 12 vị tuy nhiên cũng như ở một số nơi có sự khác nhau , thêm 2 vị nữa vào hàng thứ 3 và thứ 5. Các vị Chầu Bà gồm :
1; Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên :được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhất khi thỉnh đồng (Vì Tòa Thánh Mẫu ko mở khăn ngự đồng ), là vị Chầu tối thượng ,đứng đầu hàng Chầu, ngự tại Ngọc Điện, Thượng Giới ,cũng có khi bà rong chơi Phủ Tía , Lầu Hồng ,vui vẻ ngự trong Đền Rồng sớm hôm .Tuy nhiên cũng khá ít người mở khăn phủ diện để hầu Chầu Đệ Nhất
2; Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn :được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhị ,bà vốn là Công Chúa Thiên Thai , giáng sinh Hạ Giới , quyền cai thượng ngàn , quyền cai tam thập lục châu .Khi ngự đồng chầu mặc áo xanh thêu hoa ,đầu vấn khăn xanh ,cài trâm hoa ,tay cầm mồi tượng trưng cho bó đuốc đi rừng ,hơn nữa khi hầu về giá này còn có một tục rất đặc biệt là nghi thức Trình Trầu hay Đội Trầu :các đệ tử ai có căn mạng hoặc đã tôn nhang bản mệnh,vào ngày hầu đồng trong lễ Thượng Nguyên (đầu năm mới) , ngồi phủ khăn đỏ đầu đội mâm trầu cau để"trước trình Phật Thánh sau trình Vua Cha,trình lên Tứ Vị Vua Bà ,trình đồng Tiên Thánh , trình tòa Sơn Trang , trình lên Thập Vị Quan Hoàng ,Tiên Cô ,Thánh Cậu chứng mâm giầu trình " ,khi trình người ngồi lễ phải đặt lên mâm trầu cau 1200 đ hoặc 12000 đ (tùy mỗi nơi )tượng trưng dâng lên 12 giá chính của hàng Chầu Bà là những vị giúp mình được đội giầu.Đền thờ Chầu Đệ Nhị chính là Đền Đông Cuông , Tuần Quán , Yên Bái.
3; Chầu Đệ Tam Thoải Cung : được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Tam , là Lân Nữ Công Chúa , Ngọc Hồ Thần Nữ , vốn là con vua Thủy Tề ,ngự tại Thủy Phủ Thiên Thai chốn Thoải Cung,Tam Phủ .Bà được coi là người cai quản các sông suối biển hồ mạch nước trên đất Nam Việt , bà độ cho thuyền bè trên sông trên biển được thuận buồm xuôi gió.Câu chuyện về vị Xích Lân Long Nữ này rất buồn :Bà vốn con vua Thủy Tề Bát Hải Động Đình ,lên nhân gian kết loan phòng cùng nho sĩ Kính Xuyên,Kính Xuyên đi vắng bà ở nhà khâu áo ,chẳng may kim đâm vào tay ,bà lấy mảnh vải trắng thấm máu , đứa tì nữ Thảo Mai nhặt lấy,khi Kính Xuyên về nó vu oan cho bà là ở nhà cắt máu ăn thề tư thông với kẻ khác ,Kính Xuyên ko nghe bà thanh minh ,một mực đuổi bà đi ,bà đành phải tìm đường về thủy phủ ,trên đường đi bà ngồi khóc bên vệ đường thì gặp văn sĩ Hữu Nghị , ông hỏi bà kể hết sự tình, rồi bà lấy máu ,viết thư kể hết nỗi oan và từ biệt Kính Xuyên rồi nhờ Hữu Nghị đưa giúp,về phần mình bà ra bờ biển Đông đến chỗ có cây ngô đồng ,bà rút cây kim thoa trên đầu gõ vào cây, tức thì dưới thủy phủ có quan quân xe lọng lên rước bà về , về phần Kính Xuyên sau khi xem thư , ngộ ra mọi việc , chạy ra bờ biển thì xe loan đã từ từ đưa bà về thủy phủ ,tất cả chỉ còn lại hình bóng mờ ảo.
4; Chầu Đệ Tứ Khâm Sai : Bà được phong danh là Chiêu Dung Công Chúa , giáng thế là Chầu Bà Khâm Sai giúp dân , ngự đồng ảnh bóng khắp miền gần xa, hơn nữa Chầu cũng là người có quyền tra sổ Thiên Đình để đổi số nhân sinh là cũng là người quyền cai bản mệnh gia trung, khi ngự đồng bà mặc áo vàng thêu rồng một tay cầm kiếm một tay cầm cờ để đi cứu dân. Đền thờ bà là Đền Khâm Sai hay Phủ Bà Đệ Tứ (còn gọi là đền Cây Thị) ở Quý Hương, An Thái, Vụ Bản, Nam Định.
5; Chầu Năm Suối Lân: Bà là vị Chầu trên Sơn Trang Thượng Ngàn ,trấn cửa rừng Suối Lân dưới thời Lê Trung Hưng, bà có phép thần thông biến lá thành thuyền, cứ trăng thanh, hổ báo Chầu hiện về .Chầu ngự đồng mặc áo xanh hoặc áo lam thêu hoa cỏ ,đầu vấn khăn chàm tím.Đền Chầu là đền Suối Lân ,ngay bên cầu Sông Hóa 2 ở Lạng Sơn, bên cạnh đền có con suối quanh năm xanh ngắt chính là Suối Lân.
6; Chầu Lục Cung Nương: Bà là Lê Triều Lục Cung Công Chúa trên Thượng Ngàn ,cũng như Chầu Năm ,bà trấn cửa rừng Chín Tư ,theo tương truyền Chầu Lục cũng là người có phép thần thông và rất đành hanh ,thường rong chơi có khi chơi núi Giùm,Ỷ La ,chầu có phép hô thần chú làm cả núi rừng chuyển động ,tà ma phách tán hồn xiêu ,người trần gian ai ko biết ,làm điều sai trái chầu liền qưở ngay và hành cho bị điên, lúc đó phải sắm nón xanh hài xảo để sám hối đền Chầu. Khi ngự đồng chầu thường mặc trang phục gần giống với Chầu Năm Suối Lân. Đền Chầu lập tại rừng Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn, gọi là đền Lũng với ngày mở hội là 20/9 ÂL.
7; Chầu Bảy Kim Giao: Bà cũng là một vị Chầu Bà trên Thượng Ngàn ,theo tương truyền bà cũng là vị Chầu Bà của dân tộc Mọi, bà giúp người dân tộc Mọi biết làm ăn buôn bán nên được nhân dân nhớ ơn lập đền thờ. Khi về đồng Chầu mặc áo gấm tím. Đền Chầu là Đền Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên.
8; Chầu Tám Bát Nàn: Bà tên thật là Vũ Thục Nương ,quê ở Tiên La ,Đông Hưng ,Thái Bình .Bà là Nữ Tướng dưới thời Hai Bà Trưng ,phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà để trả thù cho tướng công là Phạm Hương và cứu dân thoát khỏi Bát Nạn (8 nạn) nên nhân dân suy tôn làm Bát Nàn Đại Tướng Quân (Bát Nàn là đọc chệch đi của từ Bát Nạn ),sau này năm 43 (SCN) bà hi sinh tại thị trấn Đồng Mỏ, Lạng Sơn. Vậy nên hiện giờ có 2 đền thờ bà là Đền Tiên La, Đông Hưng, Thái Bình là nơi quê nhà và Đền Đồng Mỏ, Lạng Sơn là nơi bà hi sinh. Khi ngự đồng bà mặc áo vàng ,đội khăn đóng, sau lưng giắt kiếm cờ, hai tay cũng cầm kiếm và cờ lệnh xông pha một mình phá mấy vòng vây .Ngày mở hội bà là ngày 17/3 ÂL.
9; Chầu Chín Cửu Tỉnh :Bà là Chầu Cửu (Theo âm Hán: Cửu là chín, Tỉnh là giếng nên Cửu Tỉnh dịch là Chín Giếng ) cai quản giếng âm dương điều hòa định thái, khi thanh nhàn bà ngự trên chiếc xe rồng dạo chơi.Khi về đồng chầu mặc áo hồng ,cầm quạt khai quang. Đền Chầu ngự cũng là đền Sòng ở Bỉm Sơn Thanh Hóa.
10; Chầu Mười Mỏ Ba : Bà là Nữ Tướng trấn giữ ải Chi Lăng ,giúp vua Lê Thái Tổ giết được tướng giặc Liễu Thăng ,sau lại giúp dân lập ấp lên vùng Mỏ Ba ,được triều đình phong công,trẻ già nhớ ơn, đến cuối thu chầu mãn hạn về thiên nhưng hàng đêm khi canh ba giờ Tí Chầu hiện ra ,cưỡi trên mình ngựa hiên ngang oai hùng và lưng đeo kiếm bạc cung vang ,cờ lệnh do vua ban. Khi ngự đồng Chầu mặc áo vàng ,đeo vòng bạc đai xanh mĩ miều ,chân quấn xà cạp, tay cầm kiếm ,tay cầm cờ hoặc mồi. Đền Chầu là Đền Mỏ Ba, lập ngay sát ải Chi Lăng, Lạng Sơn.
11; Chầu Bé Thượng Ngàn : Đây là tên gọi chung các vị Chầu Bà người Thổ Mường ,hầu hàng thứ 11, được coi là các vị Chầu Bé đành hanh nhưng tài phép, cai quản Tòa Sơn Trang, có Thập Nhị Bộ Tiên Nàng hầu cận ,khi về đồng mặc quầy (váy) & amp; áo (dân tộc )đầu chít khăn thổ cẩm ,chân quấn xà cạp, vai đeo gùi tay cầm mồi soi đường . Có rất nhiều vị Chầu Bé ở các Đền khác nhau , nhưng người ta hay thỉnh nhất là các vị sau:
a; Chầu Bé Bắc Lệ
b; Chầu Bé Đông Cuông
c; Chầu Bé Đồng Đăng
d; Chầu Bé Tam Cờ.

12; Chầu Bé Thoải Cung: Bà cũng là chầu Bé nhưng là ở dưới Thoải chứ ko phải trên Thượng như các Chầu Bé ở hàng thứ 11 ,nên được thỉnh riêng đứng hàng thứ 12.Tuy nhiên cũng có rất ít người hầu về giá này
Như đã nói ở trên, ngoài 12 vị Chầu Bà chính ,một số nơi, đôi lúc người ta thỉnh thêm 2 vị nữa vào hàng thứ 3 và thứ 5 đó là:
3; Chúa Thác Bờ : đôi khi vào hàng Chầu Bà , người ta thỉnh Chúa Thác Bờ sau giá Chầu Đệ Tam hoặc ko thỉnh Chầu Đệ Tam mà thỉnh luôn Chúa Thác .Chúa Thác Bờ là bà Chúa người Mường (Nhưng ko thuộc hàng Tam Vị Chúa Mường ),giáng tại Hoà Bình .Tương truyền Chúa Thác vốn là tiên nữ giáng sinh tại nơi thắng tích ,dạy người Mường biết trồng trọt, đánh bắt cá dưới sông Đà. Khi thanh nhàn Chúa thường bẻ lái dạo chơi khắp chốn ,vượt sông Đà dạo khắp suối khe, rong chơi Hang Miếng ,Suối Rút ,Chợ Bờ,Hang Pía, Chợ Phương Lâm, Kim Bôi, Chầm Mâm, Yên Lịch và dấu tích còn ghi lại rõ nhất là ở Động Tiên ngay giữa dòng sông Đà. Khi về đồng có lúc Chúa mặc áo trắng và khăn choàng trắng , có khi lại mặc váy đen áo trắng đai xanh, bên hông có xà tích bạc ,túi dao quai ,một tay cầm mồi, một tay cầm mái chèo bẻ lái giữa dòng sông Đà cuồn cuộn sóng dữ .Đền thờ Chúa Thác là Đền Thác Bờ ở Kim Bôi, Hoà Bình gần với công trình thuỷ điện Thác Bà và Hoà Bình ,đường đi rất khó khăn, phải đi bằng ca-nô mới đến được.
5; Chúa Bà Năm Phương: Giá này thường đựoc hầu ở Hải Phòng và được thỉnh trước giá Chầu Năm Suối Lân .Chúa được tôn là Chúa Bà Năm Phương Ngũ Phương Bản Cảnh vốn là Bạch Hoa Công Chúa ,sau bị trích giáng vào nhà họ Vũ ở cửa Cấm Giang , Gia Viên,đi về tại cây đa mười ba gốc ,tương truyền Chúa bà là người cai quản bản cảnh ngũ phương trong trời đất .Khi ngự đồng có khi Chúa mặc cả bộ trắng cũng có khi chỉ phủ chiếc khăn phủ diện đỏ làm khăn choàng ,về khám xét bản đền chứng tâm cho gia chủ rồi cầm tiền tung lên để khai quang trong ngày đầu năm .Người ta thương dâng Chúa bộ nón hài và đĩa hoa trắng (bạch hoa), trong đàn mã mở phủ phải có một cỗ xe trắng dâng Chúa Bà .Đền Chúa bà là Đền Cấm, Phố Cấm, Lê Lợi, Hải Phòng, tuy nhiên nơi tập trung đông nhất là Vườn Hoa Chéo, Hải Phòng.

  (Theo daomauvietnam)_Hiệu chỉnh Admin

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Hệ thống Thần Linh Tam Phủ _Tứ Phủ (Phần 4)


VI.Tứ Phủ Ông Hoàng _Hội Đồng Quan Hoàng

Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng. Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng. Hàng Ô ng Hoàng gồm:

1, Ông Hoàng Cả: Danh hiệu: Ông Hoàng Quận/ Lê Lợi. Vốn là con Đức Vua Cha, giáng trần mang vẻ lịch sự tốt tươi, độ cho dân chúng ấm no, khi thì ông rong chơi thượng giới cưỡi con Xích Long. Khi ngự đồng ông mặc áo đỏ thêu rồng kết thành hình chữ thọ ,đầu đội khăn xếp,có phủ vỉ lép màu đỏ nhưng ít giá đồng hầu ông, trừ khi họ hầu đủ 36 giá.

2, Ông Hoàng Đôi: còn gọi là Quan Triệu Tường ,ông là danh tướng họ Nguyễn, con Vua cha Bát Hải Động Đình, thời phù Lê dẹp Mạc, có công lớn với nhà Lê, tương truyền ông đem quân lên ngàn làm cho đùng đùng súng nổ dậy vang đất trời .Khi ngự đồng mặc áo xanh thêu rồng kết thành hình chữ thọ đầu đội khăn xếp, có phủ vỉ lép xanh ,tay cầm lá cờ lệnh to may bằng vải ngũ sắc .Đền thờ ông là Đền Quan Triệu ở Thanh Hóa

3,Ông Hoàng Bơ: Vốn là con vua Bát Hải Động Đình ,hay biến hiện lên mặt nước lạ lùng với chân dung đẹp khác thường ,thường phù trợ cho người làm ăn buôn bán và những ngư dân đánh cá ,khi thanh nhàn ông thương ngồi trên thuyền rồng dạo chơi uống rượu đánh cờ ngâm thơ nghe đàn thả hồn cùng gió trăng .Khi ngự đồng ông mặc áo trắng thêu rồng kết thành hình chữ thọ ,đai vàng ,đầu đội khăn xếp có phủ vỉ lép trắng .tay cầm đôi hèo hoa ,cũng có khi một tay cầm quạt ,một tay cầm mái chèo thong thả chèo thuyền dạo chơi .Đền thờ ông thường được lập ở các cửa sông

Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc: ông vốn là thương gia bên Trung Quốc, từ nước Đại Yên sang Nam Việt bán buôn và cứu giúp người nghèo khổ lên đựoc suy tôn làm Ông Bơ nhưng là Ông Bơ Bắc Quốc để phân biệt với Ông Hoàng Bơ Thoải của Việt Nam. Khi ngự đồng ông mặc áo tàu, đội mũ ô sa. Đền thờ ông là Đền Quan trên Bắc Giang.

4, Ông Hoàng Tứ: ông Hoàng Địa phủ, danh hiệu: Ông Hoàng Khâm Sai, chưa rõ nguồn gốc, lai lịch???

5, Ông Hoàng Năm: là vị Thánh thông hiểu đạo Phật, đoạn hát văn về Ông có câu:
Chuông cảnh tỉnh vang rền khuya sớm
Mõ nhắc nhắc người điểm tiếng ngày đêm
Nhắc người tu tỉnh không quên
Khuyến người tích thiện làm nên liên đài
Cực lạc quốc lâu dài thọ hưởng
Cõi Sa Bà dứt đoạn khổ đau
Vô thường sinh tử đuổi nhau
Luân hồi sáu nẻo u sầu thở than
Thấy dân chúng lầm than cơ cực
Chín tầng trời thánh đức cảm thương
Hoàng Năm cứu trợ muôn phương
Thành tâm bát nước nén hương đảo cầu
Độ tứ hải ngũ châu an lạc
Phù Nam Bang kiến phát non sông 


6, Ông Hoàng Lục: sinh ngày 10/8/1038 tại xã  Lũng Đính, châu Thượng Lang (nay là xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh) trong một gia đình mấy đời làm tù trưởng.
Năm 18 tuổi ông đã tinh thông binh pháp, am hiểu sử sách. Năm 1075, biết trước âm mưu xâm lược nước Đại Việt của nhà Tống, vua Lý Nhân Tông với chiến thuật "Tiên pháp chế nhân" đã cử Thái uý Lý Thường Kiệt xuất quân tiến đánh, đốt phá kho tàng của quân Tống ở vùng châu  Khâm, châu Liêm nhằm làm giảm ý chí xâm lược của nhà Tống. Nhận được mật lệnh của Thái uý Lý Thường Kiệt, Hoàng Lục cùng Tôn Đản, Nùng Chí Xuân trở thành bộ tướng dũng mãnh của Lý Thường Kiệt tung hoành ngang dọc trên đất Tống. Phá tan âm mưu xâm lược nước Đại Việt của nhà Tống, Lý Thường  Kiệt ra lệnh rút quân về nước xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt  và tin cậy giao cho Hoàng Lục trấn giữ vùng Đông Bắc từ Quảng Uyên đến Phục Hoà. Ông mất ngày 22/4/1088 tại Phục Hoà, quân sĩ và nhân dân đã tổ chức đưa hài cốt ông về chôn cất tại quê hương Lũng Đính. Với những công lao to lớn  trong việc gìn giữ biên cương, Hoàng Lục được phong An Biên tướng quân. Để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân vùng Lũng Đính đã  xây dựng đền thờ ông trên núi Đoỏng Lình. Đền thờ Hoàng Lục đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá tỉnh Cao Bằng.

Hằng năm đến ngày 28/2 âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức lề hội để ôn lại công lao của Hoàng Lục và truyền thống chống giặc giữ nước của cha ông. Sau phần lễ, bà con nô nức tham gia hội tung còn, kéo co, múa võ, biểu diễn văn nghệ... 

7, Ông Hoàng Bảy Bảo Hà: Ông vốn là con Vua cha Ngọc Hoàng, giáng vào nhà họ Nguyễn người Tày Nùng làm người con thứ 7 . Ông là người có công giúp vua Lê dẹp giặc trên vùng biên giới và giúp dân chúng khai hoang lập ấp ,nên sau khi ông hy sinh trôi dạt vào nơi bên phà Trái Hút người ta lập đền thờ ông.Theo tương truyền, ko chỉ là vị tướng giỏi tunh hoành trên đất Lào Cai mà Ông Bảy còn là người nổi tiếng phong lưu, ông hút thuốc phiện (vậy nên mới gọi đất ông ngự là Trái Hút Bảo Hà ), đánh tổ tôm tam cúc, uống trà mạn Long Tỉnh ,ăn chơi đủ mùi, khi đi rong chơi có 12 cô tiên nàng theo hầu dâng ông đủ các thứ như bánh kẹo thuốc lá trà tàu, ngựa xám, hèo hoa, lại có cô múa hát theo sau. Vậy nên những người đựoc ăn lộc ông như là đựoc lộc tự nhiên, có lộc đánh bài thì đều dâng tạ ông một bộ bàn đèn làm bằng giấy. Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng kết thành hình chữ thọ đầu đội khăn xếp phủ vỉ lép xanh lam, tay cầm đôi hèo hoa phi ngựa đi chấm đồng, nếu người nào được ông ném cây hèo vào người thì coi như người đó đã được chấm đồng và phải ra hầu Tứ Phủ, khi ông ngồi ngự có điệu hát dâng trà, rồi cả điệu hát miểu tả khi thanh nhàn ông ngồi đánh tổ tôm ,tam cúc .Đền thờ ông là Đền Bảo Hà ,bên bến phà Trái Hút ,thị xã Lào Cai, Yên bái, quanh năm tấp nập du khách đến lễ bái không chỉ cầu được lộc cờ bạc mà còn cầu lộc làm ăn buôn bán.

8, Ông Hoàng Bát (bắc) quốc: Vốn người nhà Tống sinh ra tướng tài; Võ thao lược hùng oai Quan Hoàng có; Văn kinh luân Quan tế độ Việt Nhân; Sinh thời làm tướng trung thần; Tâm lòng ái quốc thương dân Quan còn; Việt cạn non mòn, lòng Quan thiết thạch; vốn ông trốn tránh nhà Mãn Thanh sang ở Việt Nam đã theo lệnh triều đình Vua Việt đem quân dẹp giặc Nhà Thanh,Thổ Mường Mán Thái đều theo đầu quân. Ông cai quản lục châu, trấn Bảo Hà, Lào Cai và Yên Bái. Đền Ông Hoàng Bát cũng ở Bảo Hà, Lào Cai gần đền ông Hoàng Bảy.

9, Ông Hoàng Chín Cờn môn (Thiên Phủ): là con đức Vua cha (nào?), là ông Hoàng có tính yểu điệu nhất. Về đồng mặc áo dài đen, chân đi guốc, tay cầm ô đen kiểu địa chủ Việt Nam thời phong kiến. Ông về đồng giáng bút ngâm thơ, uống rượu bằng bát. Cũng như ông Hoàng Tám Bát quốc chỉ những đồng cựu và sát căn mới bắc ghế hầu ông.

Ông Hoàng Chín Thượng Ngàn (Nhạc Phủ): Người miền Nam hay hầu Ông. Ông là người dân tộc trên miền núi đi hái thuốc chữa bệnh cho muôn dân. Bao nhiêu Ông Hoàng về đồng chỉ có Ông Chín Thượng lúc dâng nhang là dùng bản chầu văn của các chúa các chầu dùng để lễ.
"Ông Chín về đồng làm lễ dâng nhang
Khấu đầu lạy Mẫu mười phương độ trì
Tay dâng nhang miệng khấn từ bi
Lệnh Ông sai đối chiều lục cung
Tính Ông hay mang trúc mang giang
Mang che mang nứa cơm lam trà vàng"
 

10, Ông Hoàng Mười Nghệ An: còn gọi là Ông Mười Củi, vốn là thần tiên trong chốn Đào Nguyên, giáng trần trở thành vị tướng tài dưới thời nhà Lê, không chỉ giỏi cầm quân ông còn là người có tài năng về văn chương thơ phú từ trong Nam Đàn, Nghệ Tĩnh đều nghe nức danh Quan Hoàng Mười, ông thường đi dạo trên lưng ngựa với bầu rượu túi thơ. Khi ngự đồng ông mặc áo vàng thêu rồng kết thành hình chữ thọ ,đầu đội khăn xếp có vỉ lép vàng trên đầu ông, các đệ tử thường lấy tờ tiền 10.000 cài vào que hương tượng trưng cho việc dâng ông lá cờ ,có khi ông ngự đồng cầm lá cờ lệnh ngũ sắc chỉ huy quan quân , cũng có khi ông cầm đôi hèo đi chấm đồng, hoặc ông cầm chiếc quật tàu làm sách, nén hương làm bút đi bách bộ đề thơ, khi ông ngồi ngự động thì có điệu hát mời đọi chè xanh ,mời miếng cau đậu trầu vàng là các đặc sản xứ Nghệ quê ông ,lại còn có điệu hò xứ Nghệ nghe rất êm ái mượt mà, đúng với "đất lề quê thói "Nghệ An, những người nào muốn xuất ngoại , làm ăn buôn bán hoặc học hành thành công đều đến cửa ông để xin lộc .Đền ông là Đền Chợ Củi, qua cầu Bến Thủy, bên dòng sông Lam, Nghệ An.
 
(Theo daomauvietnam)_Hiệu chỉnh Admin

Hệ thống Thần Linh Tam Phủ _Tứ Phủ (Phần 5)

VII.Tứ Phủ Tiên Cô
Tứ Phủ Tiên Cô là một hàng gồm các cô tiên nàng theo hầu cận các Thánh Mẫu ,Chúa Mường ,Chầu Bà .Các Tiên Cô đều là những cô gái đoan trang ,gương liệt nữ, cũng có công với giang sơn xã tắc nên được nhân dân suy tôn và lập đền thờ phụng. Tứ Phủ Tiên Cô gồm:
1.Cô Nhất Thượng Thiên: Cô là Tiên Nữ trên Ngọc Điện ,hầu Vua Mẫu ,thường giúp trần gian có lời kêu cầu tấu thỉnh với các Tòa các giá trong Tứ Phủ, cũng có khi cô giáng trần làm phép hóa ra thuốc trị bách bệnh, khi thanh nhàn Cô Nhất rong chơi khắp chốn từ Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng cho đến Quảng Bình, Quảng Trị ... , từ nội thành ngoại thị, kinh đô cô đi về, cô bắt đồng người má phấn lưng ong. Khi ngự đồng cô mặc áo lụa đỏ thêu hoa phượng, đội khăn đóng phủ vỉ lép đỏ ,cài hoa ,tay cầm đôi quạt ngà quạt mát cho thế gian . Đền Cô Nhất thuộc tỉnh Nam Định
2.Cô Đôi Thượng Ngàn: Hiệu cô là Công Chúa Sơn Tinh,cô ngự cảnh Bồng Lai, Thiên Thai. Cô rất xinh đẹp ,về đồng đánh phấn soi gương , lược ngà chải chuốt ,khăn voan quấn đầu,da cô hây hây tựa tuyết ngà đông ,tóc già già biếc má xinh phấn hồng ,chân đi đưa nhởn đưa nhang , bước nào ra bước tiên nàng hái hoa .Cô là vị Tiên Cô hầu Vua hầu Mẫu ba tòa,cô đại tài ,tiếng tăm lừng lẫy được Vua Bà yêu thương ,đệ tử cô có vô số hằng hà , lộc Sơn Lâm Cô lấy để lấp biển Đông mà vẫn tràn đầy ,nhưng có một điều ,nếu ai đã được cô ban lộc thì đừng hững hờ muốn quên , nếu quên thì cô để cho quên rồi sau này lại bắt đền làm đôi .Lúc thanh nhàn cô rong chơi Quán Sở Tần Lầu rồi lại ngự xa giá lên chầu Thượng Đế Vua Cha ,hoặc có khi cô ngồi trên ngàn tay đàn miệng hát ca ngâm hoặc niệm Phật Quan Âm.Cô rất hay thử lòng người thế gian , cô đã từng làm chau mày quân tử xót xa anh hùng .Khi ngự đồng cô mặc áo lá xanh ,đầu vấn khăn kết thành hình hoa,có vấn vỉ lép xanh ,tay cầm mồi .Đền Cô là ngôi đền nhỏ nằm ngay gần Đền Đông Cuông ,trước cửa Đền Cô có giếng nước quanh năm trong vắt
2.Cô Đôi Cam Đường: Cô là người tiên nữ giáng sinh ở đất Đình Bảng ,Bắc Ninh ,gia đình đời nối đời buôn bán vải tơ,cô rất xinh đẹp ,dáng thanh thanh mắt tựa sao sa , thơm thơm tóc phượng già già hây hây má phấn da ngà lưng ong ,có má lúm đồng tiền sáng trong ngọc bích, nở nụ cười làm cho liễu nguyệt hờn ghen.Cô bán vải từ đường Quan Lộ ,Chợ Dầu,Đình Bảng với đủ các loại tơ lụa ,vải sồi ,lĩnh tía ,chàm xanh , nâu non, vải rồng ,hoa trơn .Dù đường xa lắc mà lòng cô không ngại , chỉ muốn giúp người đời có vải hộ thân làm cho niềm tin đồn đại xa gần , khiến cô đi tới đâu thì hoa cười chim hót , các bạn nàng nhẹ gót thênh thênh .Sau khi cô trở về trời để lại nhớ thương cho nhân dân .Khi ngự đồng cô mặc áo tứ thân xanh ,chít khăn mỏ quạ ,đội nón quai thao (nón ba tầm ), trên vai là chiếc đòn gánh cong với hai đầu là đôi túi đẫy dịu dàng đựng vải .Tuy cô quê ở Bắc Ninh nhưng lại hiển thánh tại thị xã Cam Đường ,Lào Cai nên nhân dân tại đó nhớ ơn đã lập đến cô là Đền Cô Đôi Cam Đường.
3.Cô Bơ Hàn Sơn: Hay còn gọi là Cô Bơ Bông .Cô vốn là con Vua Thủy Tề hầu trong Cung Quảng Hàn ,rất xinh đẹp ,cổ kiêu ba ngấn , tóc mượt , mắt phượng lồng gương , da ngà điểm tuyết ,má hồng hồng thu nguyệt tô son ,thanh xuân vừa độ trăng tròn được bậc thần nữ phong cô nhan sắc vẻ khuynh thành,có hương xông gấm vóc áo quần ,lại đàn hát cũng hay nên được Đức Vương Mẫu có lòng quảng đại phong là Công Chúa Ba Bông hay Công Chúa Thủy Cung, cùng quan sứ giả chọn ngày lành để giáng hiện thần tôn thành cô thiếu nữ đất Hàn Sơn. Câu chuyện về cô Bơ Bông như sau: Cô giáng trần, khi Mẫu đang ngự trên long sàng, phút mộng thần chiêm bao thấy Cô Bơ dâng hạt châu trước long sàng, sau này vào ngày cô giáng sinh thì trên trời nổi áng mây xanh, Thủy Cung nhã nhạc tập tành để cô Ba Nàng giáng sinh, thì Mẫu trông thấy cô nhan sắc giống như trong giấc điệp trước đây, sau này cô có công trong việc phù Lê dẹp Mạc , triều đình hứa sẽ phong công nhưng cô cứ đợi chờ như hoa đào còn đợi gió đông nhưng không kịp, đã đến ngày định nhật chí kì , Vua Thủy Tề đã cho xe loan đón rước cô về Thoải Cung ,thế là cô đã ko đợi được người quân tử để trao mối duyên hồng .Theo tương truyền ,cô Bơ còn là người bẻ lái con thuyền hạnh phúc ,đưa người thoát ách cơ hàn , chở người qua bến lầm than đọa đày ,non xuân sắc cũng một tay cô tô vẽ thành như nét thần tiên ,cô về làm hoa nở hây hây , cô đi làm cho ngọn cỏ cành cây thẫn thờ. Cô là người thông tri dưới bể trên trời ,bắt đồng không kể trẻ già ,ai muốn khẩn cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm. Khi cô ngự đồng mặc áo trắng pha màu tuyết, đầu đội khăn đóng ,vấn khăn ngang ba màu ,tay cầm đôi mái chèo ,chèo từ bến Cô Tô có Đền Hàn Sơn rồi vân du khắp nơi, khi đến bản đền cô sai thị nữ bắc cầu thoi để rước cô vào ,khi chèo thuyền nơi ghềnh đá cheo leo, nơi phong ba bão táp cô khoác chiếc áo choàng trắng mỏng tung bay trong ngọn nam phong , cũng có khi cô cầm dải lụa đi đo đất đo mây. Đền thờ cô là Đền Cô Ba Bông hay đền Cô Bơ Bông ở Hà Trung, Thanh Hóa, ngay cửa sông, con đường vào rất khó khăn, mở hội ngày 12/6 ÂL
4. Cô Tư Ỷ La: Có người nói cô Tư làTiên Nữ theo hầu Chầu Đệ Tứ Khâm Sai nhưng theo tài liệu cổ chính xác nhất thì cô Tư theo hầu Mẫu Thượng, cô xinh đẹp dịu dàng, được Mẫu hết mực yêu quý, khi thanh nhàn cô thường dạo chơi cảnh Tây Hồ với chiếc áo lụa vàng tha thướt thêu hoa lá. Cô được thờ trên đền Ỷ La, Tuyên Quang .
5.Cô Năm Suối Lân: Cô là Tiên Nàng người dân tộc theo hầu cận Chầu Năm Suối Lân, cô ở trên Thượng Ngàn, có tính đành hanh , ai mà phạm lỗi thì cô phạt có khi là dở khóc dở cười, có khi cô cho đi lạc trong rừng, ai biết tâm thành lễ bái, cô ban tài tiếp lộc Sơn Lâm Sơn Trang , cô là người cai quản con Suối Lân , bốn mùa xanh ngắt , nhưng ai ko biết mà xuống tắm sẽ bị cô phạt cho sốt nóng mê sảng .Khi ngự đồng cô hay mặc áo xanh hoặc áo lam, đầu vấn khăn hình củ ấu và tay cầm đôi mồi lửa. Đền cô là ngôi đền nhỏ cạnh đền Chầu Năm , bên bờ sông Hóa
6.Cô Sáu Sơn Trang : Cô là Tiên Nàng hầu cận sát bên Mẫu Thượng Trang Châu , cũng có nơi nói cô là người kề cận Chầu Lục Cung Nương và gọi cô là Cô Sáu Lục Cung , nhưng mọi tài liệu đêù thống nhất cô Sáu là người có tài bốc thuốc cứu người , khi cô lên ngàn hái thuốc thì cầm thú reo ca , voi quỳ hổ phục bên đường cô đi, cô rất khôn ngoan nhưng cũng rất đành hanh, cô đặc biệt ghét người ăn nói quanh co, ăn không nói có. Khi giáng đồng cô mặc quả áo lam ngắn vạt dài tay, chít khăn xanh, trâm cài lược dắt, tay cầm bó mồi.
7.Cô Bảy Kim Giao :Cô theo hầu Chầu Bảy Kim Giao trên đất Thanh Liên , Mỏ Bạch , Thái Nguyên , cũng là người dân tộc Mọi , cô hiển ứng , đêm đêm mắc võng đào cùng các bạn tiên ngôi hòa ca .Khi về đồng cô mặc áo lụa tím.
8.Cô Tám Đồi Chè: Cô Tám ko phải là người theo hầu Chầu Tám Bát Nàn , mà cô có tích sử riêng, cô là người thiếu nữ hái chè đất Hà Trung , cũng một lòng giúp vua , tuy sau này chưa được đền đáp nhưng cô cũng được dân lập đền thờ là đền Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hóa, chỉ cách đền cô Bơ Bông có một con sông. Khi ngự đồng cô mặc áo xanh quầy (váy) xanh, đầu kết khăn xanh, cô múa mồi rồi múa dáng điệu hái chè
9.Cô Chín Sòng Sơn: Còn gọi là cô Chín Giếng , một tiên cô tài phép , theo hầu Mẫu Sòng, lại có tài xem bói, 1000 quẻ cô bói ra thì ko sai một quẻ nào,Cô có phép thần thông quảng đại , ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách , rồi cô hành cho dở điên dở dại , sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứ Thanh, ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản .Còn có truyền thuyết về cô : Cô là Tiên Nữ hầu Mẫu trong đền Sòng, quản cai chín giếng, cô dạo chơi bốn phương khắp ngả trời Nam, sau về đến đất Thanh Hóa cảnh lạ vô biên, cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát, lấy gỗ cây sung làm nhà , còn cây si thì cô mắc võng , nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa, cách đền Sòng Sơn khoảng 30km. Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai, có khi cô máu quạt tiến Mẫu, múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên. Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật: Nón đỏ hài hoa vòng hồng để dâng cô đều được cô chứng minh .Ở một số địa phương đêỳ thờ cô và tôn với các danh khác như Cô Chín Rồng, Cô Chín Suối nhưng chính đều là Cô Chín Sòng được thờ phụng.
9*.Cô Chín Tít Mù: Khác với Cô Chín Giếng ở đồng bằng, cô Chín Tít Mù ở trên Thượng Ngàn, có tài trị bệnh bằng nước suối, tuy nhiên rất ít người hầu về giá này, Đền cô lập ở trên đường lên Chầu Mười Mỏ Ba, ngôi miếu nhỏ có suối nước thiêng, ai kêu cầu cô về in bóng trên nước suối đầu quấn khăn tía, có người dâng cô nón đỏ có người dâng nón xanh để xin thuốc chữa bách bệnh.
10.Cô Mười Mỏ Ba: Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba, giúp vua đánh giặc Ngô, khi ngự về cô mặc áo vàng cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc, sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười.
11.Cô Bé Thượng Ngàn: Cũng như Chầu Bé , các vị cô bé đều là những bộ nàng trên Tòa Sơn Trang, hầu Mẫu Thượng Ngàn, có rất nhiều cô bé trên khắp các cửa rừng lớn nhỏ, các cô về mặc quần áo thổ cẩm, chân quấn xà cạp, đeo kiềng bạc, tay cầm ô, vai đeo gùi. Các cô bé gồm:
a,Cô Bé Thượng Ngàn ( Thị Xã Lạng Sơn )
b,Cô Bé Suối Ngang ( Hữu Lũng)
c,Cô Bé Đèo Kẻng ( Thất Khê )
d,Cô Bé Đông Cuông (Yên Bái )
e,Cô Bé Tân An (Lào Cai )
f,Cô Bé Cây Xanh (Bắc Giang )
g,Cô Bé Nguyệt Hồ (Bắc Giang )
h,Cô Bé Minh Lương (Tuyên Quang)
i,Cô Bé Cây Xanh (Tuyên Quang)
k,Cô Bé Thác Bờ (Hòa Bình)
12.Cô Bé Thoải Phủ: Cô Bé ngự dưới tòa Thoải Phủ, chỉ tráng bóng chứ ko mở khăn, đứng hàng 12 trong các cô.
           
VIII. Tứ Phủ Thánh Cậu
Là các vị cậu chết trẻ , tinh nghịch ,thường phù hộ cho các gai đình buôn bán cũng như những người muốn cầu học hành. Tứ Phủ Thánh Cậu gồm :
1. Cậu Hoàng Cả (sắc phục màu đỏ)
2. Cậu Hoàng Đôi (sắc phục màu xanh)
3. Cậu Hoàng Bơ (sắc phục màu trắng)
4. Cậu Hoàng Tư Long thành (sắc phục màu vàng)
5. Cậu Bé (sắc phục màu xanh) 
a, Cậu Bé Đồi Ngang ( Cậu Hoàng Quận )
b, Cậu Bé Đồi Non

Ngoài ra ở mỗi bản đền lại có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền, trong đó thường hay ngự đồng như: Cậu Bé Phủ Bóng, Cậu Bé Đông Cuông ....
Các cậu về thương mặc áo cánh các màu ứng với mỗi giá, đầu vấn khăn, hai bên tay thường có hoa cài, chân quấn xà cạp, đi giày thêu . Các cậu về thường làm lễ tấu rồi đi hèo hoặc múa lân.

Căn số và Hầu đồng

Căn số và hầu đồng

1- Tìm hiểu về chữ căn





Căn vốn có nghĩa là gốc rễ (rễ cây),nó còn có nghĩa để chỉ căn do (nguyên nhân) của sự vật hiện tượng.Số là số mệnh,số phận của con người.Quả là kết quả có được theo Luật Nhân quả.Dân gian cho rằng số mệnh con người do con tạo xoay vần,do thiên cơ định sẵn ,nghĩa là do trời định.Đạo Phật không có quan niệm số mà chỉ có quan niệm về luật nhân quả :gieo nhân nào gặt quả đó, không có chuyện số phận do một thế lực siêu nhiên nào tạo ra.Thông thường người Việt Nam vẫn tin cả số mệnh và luật nhân quả.Vậy căn số có thể hiểu là số phận con người không phải ngẫu nhiên mà đã được định trước bị chi phối bởi quy luật nhân quả ( người ta còn gọi là căn quả). Luật nhân quả xét tới cả tiền kiếp và hậu kiếp. Khi xem xét tam kiếp (ba sinh): tiền kiếp-hiện kiếp- hậu kiếp (kiếp trước , kiếp này và kiếp sau gọi chung là ) Phật giáo giải thích được chuyện có người ăn ở lương thiện mà vẫn nghèo khổ, xui xẻo ,kẻ phá bĩnh làm việc ác mà vẫn sung sướng chưa bị quả báo là do họ vẫn còn nghiệp báo từ kiếp trước và quả báo chưa hiện ra trước mắt nhưng chắc chắn sẽ hiện ra

2 - Căn đồng số lính, căn tứ phủ..

Căn đồng số lính có thể hiểu là số phận của 1 người đã được định sẵn là phải ra hầu thánh để làm lính,làm đồng bốn phủ.dĩ nhiên điều đó cũng tuân theo quy luật nhân quả:gieo nhân nào thì gặp quả đấy,dĩ nhiên cũng như gieo hạt giống thì đến lúc hạt nẩy mầm thành cây cây ra hoa kết quả thì cũng còn phụ thuộc vào hoàn cảnh vào tay người chăm sóc,Hạt giống đc chọn để gieo tuy ko phải giống tốt nhưng ngày nay bạn chăm sóc tốt cây vẫn có thể ra trái ngon và ngược lại.Bạn nghĩ xem nói về căn đồng số lính cũng có thể có trường hợp 1 người kiếp trước báng bổ thần thánh, phá hoại đền chùa ,không tin vào nhân quả,không thành tâm biết ơn các vị thần thánh..hay chế giễu những người đi lễ thành tâm nơi cửa thánh,cũng có thể họ thấy nam giới đi lễ họ chê cười thì kiếp này có thể họ lại phải đèn hương phụng sự,ra bắc ghế hầu thánh.




Điều gì cũng có thể sảy ra .Cũng có thể tiền kiếp tuy ta nhất tâm phụng sự cửa thánh nhưng chưa trọn vẹn thì kiếp này ta lại tiếp tục phụng sự.Và còn muôn ngàn căn do khác mà ta ko biết dc.Nhưng như mình đã nói dù hạt giống ko tốt nhưng nếu kiếp này ta sống tốt chăm sóc tốt cho cây của chúng ta thì nó cũng có thể ra hoa thơm quả ngọt.

3 - Mở phủ:

Mở là mở đầu, phủ là nói về tín ngưỡng thờ tam tứ phủ. Tín ngưỡng thờ tam tứ phủ đặc trưng bởi nghi thức hầu đồng. Mở phủ chính là nghi lễ mở đầu để cho một người trở thành một đồng tử (con đồng).

Thưc tế vẫn có những người mở phủ mà không hầu và không mở phủ nhưng vẫn hầu.Nhiều người làm lễ trình đồng tiễn căn, tức là trình lên tứ phủ để xin thần thánh xem xét về căn đồng của mình và xin tiễn căn ( thải đồng) hay nói nôm na là trả nợ tứ phủ rồi và xin trở lại là người bình thường không có đồng bóng gì nữa.Kết luận: căn mở phủ, căn đồng cũng có nghĩa như nhau

4 -Vị thánh cai đầu đồng và cầm bản mệnh .


Người ta cho rằng mỗi người có một vị thần cai quản số mệnh của mình ( vị thần cầm bản mệnh). Mỗi tín ngưỡng, tôn giáo..lại có những vị thần khác nhau. Có thể vị thần cầm bản mệnh lại là chư Phật và Bồ Tát, hay các vị thần trong đạo giáo trung hoa như ngọc hoàng, nam tào tinh quân.....Cũng nhiều sách viết về vị thần cầm bản mệnh nhưng lại nói danh hiệu về các loài hoa như quế hoa công chúa, mai hoa công chúa..Trong tín ngưỡng thờ Mẫu tam tứ phủ các vị thần cầm bản mệnh hiển nhiên là các vị thần thuộc hệ thống tam tứ phủ.Các vị đó gồm quan lớn, chầu bà, thánh hoàng,thánh cô, thánh cậu...Các vị thánh Mẫu được coi là thần chủ của tín ngưỡng này và với hình tượng uy nghi các ngài được quan niệm là không cai bản mệnh của ai cả (mặc dù thực tế vẫn có số ít các thầy bói phán căn mệnh của một người là căn Thánh Mẫu, hay có người tự nhận là căn Mẫu được Mẫu báo mộng này nọ...).Các vị thần cầm bản mệnh là cai quản căn số của một người. Các vị chấm đầu đồng cũng có vai trò tương tự nhưng là cai quản về căn đồng số lính của một đồng tử. Chấm đồng cũng giống như chấm lính bắt lính. Hình dung một người được các quan lại thời xưa chấm lính ( biên tên vào sổ đi lính) rồi sau đó đến thời hạn các quan lại bắt lính.Về đồng bóng các cụ xưa có câu:


Chấm đồng từ thủa mười ba
Đến năm mười bảy phải ra trình đồng

Các con số có tính chất thí dụ không mang tính cố định, người ta có thể hát khác đi như:


Chấm đồng từ thủa lên ba
đến năm muời tám phải ra trình đồng


Nhiều người quan niệm về mối liên hệ giữa vị thánh căn mệnh của mình và số phận bản thân mình.Những quan niệm đó đa phần là truyền miệng và cũng không thuyết phục. Thí dụ như ghế cô bơ thì tình duyên trắc trở, căn ông bảy thì mê cờ bạc, căn chầu bé thì tính đành hanh, căn ông mười thì đỗ đạt làm quan to...


Nếu xét về luật nhân quả thì quan niệm trên không đúng. Nhưng thưc tế rất nhiều người sau khi đi xem bói nghe nói mình căn ông bảy thì bắt đầu tập hút thuốc, căn cô chín thì muốn học tử vi để sau này bói, căn chầu lục thì tập ăn trầu... Mọi người đều muốn chững tỏ mình là căn vị thánh đó. Nhiều người nói là họ đua đòi là kệch cỡm. Nhưng xét cho cùng con nào cũng muốn giống mẹ giống cha. Nếu một người mộ một vị thánh nào đó thì cũng rất có thể vị thánh đó là vị thần cầm bản mệnh của họ, bởi lẽ đó cũng là nhân duyên.Mọi người rất muốn biết vị thánh căn mệnh của mình.Có người được mơ thấy thần thánh, đi xem bói, được người ngồi đồng phán bảo, xem trong sách, hay tự cảm nhận...Đối với riêng tôi để tìm vị thánh bản mệnh nên tìm hiểu hai chữ tâm linh có tâm thì ắt có linh

5 - Chữ đồng: Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ( tôi không dùng từ đạo Mẫu) thì nghi lễ hầu đồng ( hầu bóng, hầu thánh, lên đồng...)


là một nghi lễ quan trọng và mang tính đặc trưng. Từ đồng thường được viết dưới dạng chữ hán nôm là :. Có nhiều cách giải thích về chữ đồng ( trong đồng bóng) và hầu hết đều cho rằng đồng là người được bóng thánh (hoặc linh hồn) ốp vào .Giải thích chữ đồng ở đây giống chữ đồng trong từ chỉ đứa trẻ con là vì khi hầu đồng thì người ngồi đồng giống như chiếc ghế để thánh ngồi ( từ cốt có nghĩa là xác, có thể quan niệm khi hầu thánh người ngồi đồng chỉ là xác để chư thánh điều khiển ).Khi đó người ngồi đồng không còn là chính mình nữa mà mang hình bóng của thần thánh (không quan niệm hồn thần thánh nhập vào và chỉ quan niệm bóng thánh ảnh vào mà thôi). Người ngồi đồng giống như đứa trẻ con thơ ngây trong sáng , quên đi cái tôi của mình mà hóa nhập vào hình bóng thần thánh.


6 - Các nghi lễ :Tôn nhang bản mệnh -Trình đồng tiễn căn- Trình đồng mở phủ ( còn có trình đồng rồi khất một khỏag thời gian rồi mới ra hầu)




Việc tôn nhang bản mệnh có thể làm với tất cả mọi người, những ai muốn tôn thờ vị thần bản mệnh để vị đó che chở có thể làm nghi lễ này. Cuốn lục thập hoa giáp có ghi vị thần bản mệnh theo 60 hoa giáp. Ứng với mỗi người tra năm sinh thì sẽ ra và không phân biệt hay ghi chú về việc có căn đồng hay không. Hơn nữa chữ đồng đâu liên quan khi một người tôn nhang bản mệnh.
Thông thường khi làm lễ mở phủ người ta cũng làm lễ tôn nhang bản mệnh cho tân đồng, thường có một bát nhang để tân đồng mang về hương khói hoặc có thể gửi ở đền , điện..Nhưng cũng có người mở phủ mà không làm lẽ tôn nhang- họ cho rằng mở phủ là đã tôn thờ huơng khói tất cả chư vị tiên thánh rồi. Về căn đồng nhiều người giải thích là nợ tứ phủ và phải ra trình đồng để giả nợ. Nôm na là nợ đồng thì phải trình đồng. Có người trình đồng mở phủ và có người trình đồng tiễn căn. Trình đồng tiễn căn áp dụng với những người có đồng nhưng không có điều kiện để mở phủ (vì sau lễ mở phủ người ta còn phải hầu đồng tiếp) hoặc không muốn mở phủ, hay quan niệm về nhẹ căn nhẹ số nên có thể không cần phải hầu còn người nặng căn nặng số thì bắt buộc phải ra.

Trình đồng mở phủ xong thì người đó được gọi là tân đồng sau ba năm thì được coi là một thanh đồng thật sự thường thì trong ba năm đầu người ta có thể thay thầy đổi chủ, và khi đủ ba năm kể từ ngày mở phủ thì có thể coi là yên ổn và không nên mở phủ lại nữa. Các cụ có câu ba năm thử lính chín năm thử đồng có lẽ vì vậy mà sau mười hai năm (một giáp đồng) thì người có khả năng hay gọi là có căn số làm quan thầy có thể làm một buổi lễ nhận sắc ấn để làm thầy thiên hạ.
Nghi lễ trình đồng mở phủ và trình đồng tiễn căn tương đối giống nhau.Người ta thường bày bốn chum nước có dán giấy 4 màu đỏ xanh trắng vàng, tương ứng với bốn phủ thiên nhạc thủy địa (dán vào thân chum hoặc nắp chum). Lễ mở phủ thì có mở nắp chum còn lễ tiễn căn thì không



(Bài viết: Soạn giả Phúc Yên)