Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Huyền bí lễ hầu đồng

GiadinhNet - Hầu đồng - nghi thức tín ngưỡng tiêu biểu nhất của Đạo Mẫu - đang được làm hồ sơ đệ trình lên UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại. Trong Hầu đồng có hát Chầu văn (còn gọi là hát văn, hát bóng, hát hầu đồng), được đặt trong một nghi lễ dân gian huyền bí.

Huyền bí lễ hầu đồng 1
Nghi lễ huyền bí
Đạo Mẫu nói chung và nghi thức hầu đồng là một tín ngưỡng dân gian phổ biến và đặc sắc của Việt Nam, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa có một giá trị lịch sử rất lớn.
Trong Hầu đồng có hát Chầu văn (còn gọi là hát văn, hát bóng, hát hầu đồng), là loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu ở Nam Định và một số vùng quanh Hà Nội). Hát Chầu văn là loại hình nghệ thuật âm nhạc diễn xướng tâm linh của người Việt, gắn bó và không thể thiếu trong nghi lễ hầu thánh (hầu đồng, hầu bóng) của văn hóa thờ Mẫu. Hát Chầu văn dùng âm nhạc có tính tâm linh, lời văn trau chuốt, được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu Thánh, là nghệ thuật thuần Việt nhất, không bị ảnh hưởng của âm nhạc nước ngoài từ làn điệu, ca từ, cách múa, biểu diễn, quần áo, nhạc cụ…
Hát Chầu văn trong các lễ hầu đồng xuất phát từ hình thức diễn xướng dân gian trong các lễ hội, gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo).
Không gian diễn xướng của Chầu văn là khung cảnh đền, phủ rất quen thuộc với công chúng. Các thanh đồng hầu thánh trước bàn thờ Mẫu, hai bên có cung văn hát chầu, kết hợp với hầu bóng. Đó cũng là phương thức hữu hiệu mà người xưa quan niệm để mọi người có thể giao tiếp với Mẫu, với các vị thần linh, bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong những điều tốt đẹp.
Trong Hầu đồng có các lối hát văn, diễn xướng, các giá đồng ngự như Quan Tam Phủ, Quan Tuần Tranh, Chầu Đệ Nhất, Chầu Đệ Nhị, Chầu Bé Bắc Lệ, Ông Hoàng Bơ, Chầu Bát, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười… Vị giáng là người Tày thì ăn mặc theo kiểu Tày; người Nùng thì ăn mặc theo kiểu Nùng, người Khơ Me thì ăn mặc theo kiểu Khơ Me… Âm nhạc, động tác múa  của người hầu cũng theo như vậy… Qua đó thấy người Việt xa xưa đã hòa nhập văn hóa, không phân biệt dân tộc, đa số cũng như thiểu số, rất bình đẳng và mở cửa để tiếp nhận đa văn hóa – điều mà cả nhân loại đang kêu gọi.  
Tính chuyên nghiệp hóa của nghệ thuật hát Chầu văn Việt Nam rất cao, hay và chuyên nghiệp. Ở nước ngoài, hát chầu văn về phần âm nhạc và người biểu diễn là một, thì ở Việt Nam có ban nhạc riêng, người biểu diễn riêng, thậm chí mỗi địa phương, mỗi triều đại lại có một ban bệ riêng.
Huyền bí lễ hầu đồng 2
Văn hóa, tín ngưỡng của Hầu đồng
GS – TS Ngô Đức Thịnh, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Bảo tồn Chầu văn Việt Nam cho rằng, hát Chầu văn có giá trị nghệ thuật cao nên cần được phổ cập rộng rãi hơn nữa tới công chúng trong nước và quốc tế để mọi người hiểu biết hơn về di sản văn hóa này, từ đó, có ý thức bảo tồn và phát huy.
Theo ông, Hầu đồng là nghi thức tín ngưỡng đậm văn hóa truyền thống Việt, đã từng nở rộ không quản lý được, không đi theo một quy chuẩn nào và có những người trục lợi trong chính tín ngưỡng của họ… gây hiểu sai lệch, tranh cãi và bị cấm.
Ngày nay Hầu đồng lại được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá rất cao. Văn hóa, tín ngưỡng của hầu đồng là từ người dân. Điêu quan trọng khi bảo tồn và gìn giữ những di sản văn hóa dân tộc đó là phải dựa vào cộng đồng. Chủ thể văn hóa phải giao về lại cho cộng đồng và kèm vào đó trao cho họ cái hiểu biết, cái tri thức, cái trách nhiệm. Có học giả thế giới đã nhận xét rằng, chỉ riêng về âm nhạc, hát chầu văn đã có thể được coi là một di sản văn hóa phi vật thể chứ chưa nói đến lối hát này còn được đặt trong một nghi lễ dân gian. Đạo Mẫu với nghi lễ Hầu đồng của Việt Nam là tín ngưỡng đặc trưng cho cái tầm và cái tâm của người Việt Nam. Nhà nước đã công nhận Hầu đồng là một nghi lễ tín ngưỡng quốc gia. Và hồ sơ đề nghị Hầu đồng là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại đã được trình lên UNESCO. Hy vọng trong tương lai, Hầu đồng được công nhận là một giá trị văn hóa cần được bảo tồn của nhân loại.
Hát Chầu văn ra đời sớm hơn so với các loại hình dân ca khác. Trong sách “Kiến văn tiểu lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) có ghi: “Thời Trần (1225 - 1400) có lối hát trước mặt đế vương, gọi là hát Chầu”.
Có 4 hình thức biểu diễn: Hát thờ, hát thi, hát hầu (hát phục vụ hầu đồng, lên đồng) và hát văn. Hát thờ thường hát vào các ngày lễ tết, tiệc thánh (ngày thánh đản sinh, ngày thánh hóa...) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng. Hát hầu theo tín ngưỡng tứ phủ thì ba giá Tam tòa Thánh Mẫu là bắt buộc và hầu tráng bóng (không tung khăn). Hát văn nơi cửa đền thường gặp tại các đền phủ dịp đầu xuân, lễ hội. Thường thì cung văn sẽ hát văn về vị thánh thờ tại đền và hát theo yêu cầu của khách hành hương.
Trà Giang

"Lên đồng" có phải là mê tín dị đoan?

Bài đã được xuất bản: 03/07/2010 06:00 GMT+7
Chúng ta không chống tôn giáo tín ngưỡng, chúng ta chống những kẻ lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng. Vấn đề ở đây là chúng ta phải bằng cách nào đó để hạn chế dần (chứ khó mà cấm hết được), tạo nên sự thăng bằng của xã hội. Ngăn chặn hạn chế những biểu hiện lợi dụng trong đời sống, chứ không phải là cấm bản thân hoạt động đó.
LTS: Bộ VH - TT - DL đang soạn thảo Thông tư để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý lễ hội. Trong những điều cấm của Dự thảo, có việc cấm tổ chức hoạt động "lên đồng". Để làm sáng tỏ vấn đề này, Tuần Việt Nam có cuộc trao đổi với Giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa.

Đừng để người dân phản ứng tiêu cực
- Là người đã nghiên cứu Đạo Mẫu nói chung và "lên đồng" nói riêng nhiều năm, GS có đồng tình với việc "cấm" này không?
GS Ngô Đức Thịnh: - Vấn đề cốt lõi phải bàn trước tiên là nhận thức cho đúng về bản chất của những cái mình định cho phép, hay định cấm. Bởi nếu không hiểu sẽ có cách ứng xử không nhất quán, bình thường thì cho làm, khi có chuyện rộ lên lại cấm. Khi nghe về dự thảo thông tư này đã có người phản ứng với tôi theo kiểu "kệ luật, có cấm thì chúng tôi vẫn cứ làm".
Ta cấm không đúng thì sẽ tạo ra một kẽ hở cho một lớp người lợi dụng và trục lợi. Từ những năm 1980, khi "lên đồng" còn bị cấm, tôi vào TPHCM để nghiên cứu về "lên đồng". Mình cứ lo mất công thuê máy quay phim đến ghi hình, lỡ có ai đến bắt dừng lại vì không được phép thì sao? Nhưng người dân họ bảo cứ yên tâm, họ đã lo hết rồi. Họ lo theo cách của họ, mà không nói ra thì ai cũng hiểu.
Đừng để người dân phản ứng tiêu cực, coi thường pháp luật nếu luật của chúng ta chưa đầy đủ và hoàn thiện. Đã đến lúc phải bàn cho rốt ráo xem "lên đồng" có là hoạt động văn hóa không?
Nhiều người vẫn quan niệm "lên đồng" là mê tín dị đoan?
Giáo sư Ngô Đức Thịnh
Phải quay lại định nghĩa lại thế nào là mê tín dị đoan. Nếu xem lại Pháp lệnh Tôn giáo tín ngưỡng năm 2001, sẽ thấy rất ít cụm từ này. Pháp lệnh chỉ nhấn mạnh: "Nhà nước ngăn cấm những người sử dụng những hình thức tôn giáo tín ngưỡng để mưu cầu những lợi ích bất chính, làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe danh dự của người khác, tới an ninh xã hội..." Tức là trước đây người ta gọi là mê tín dị đoan, nhưng giờ người ta đã không gọi như thế nữa. Bởi trong rất nhiều trường hợp, bản thân hoạt động, hiện tượng ấy không phải là mê tín dị đoan, nhưng  chức năng của nó trong bối cảnh xã hội, đã bị những con người cụ thể lợi dụng nó như thế nào. Từ bàn thờ vào tới hậu cung của một một ngôi đền, ngôi chùa... là những bức tượng, những bài vị của những người biểu trưng cho cái thiện, hay những anh hùng dân tộc, đáng để chúng ta cung kính họ.
Chỉ có từ phía chân bàn thờ ra tới xã hội, đó là do chúng ta đứng trước họ để mưu cầu cái gì, ước vọng cái gì, cầu xin cái gì. Đó mới là chỗ có vấn đề.
Có tôn giáo tín ngưỡng nào dạy con người làm điều ác không, hay chỉ có con người lợi dụng nó để làm điều ác.
Ở đây phải quay lại tư tưởng của Bác Hồ, chúng ta không chống tôn giáo tín ngưỡng, chúng ta chống những kẻ lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng. Vấn đề ở đây là chúng ta phải bằng cách nào đó để hạn chế dần (chứ khó mà cấm hết được), tạo nên sự thăng bằng của xã hội. Ngăn chặn hạn chế những biểu hiện lợi dụng trong đời sống, chứ không phải là cấm bản thân hoạt động đó.
"Lên đồng" là một hoạt động của đạo Mẫu
Vậy phải hiểu về "lên đồng" thế nào cho đúng? Thế giới ứng xử ra sao với hiện tượng này?
- Ở đây liên quan đến một hình thái tôn giáo thế giới là Saman giáo - hình thái nảy sinh trong xã hội bộ lạc sắp bước vào phong kiến, khi đã có sự phân hóa, khi con người đã hiểu không phải ai cũng tiếp cận được với thần linh, mà phải thông qua những người có khả năng đó, là những thầy Saman. Ở VN là những ông đồng bà đồng.


Để thực hiện việc nối thông đó thì các thầy Saman phải có khả năng tự đưa mình vào trạng thái ngây ngất, trong trạng thái như vậy thì thần linh mới nhập được hồn vào họ. Khi đó họ không phải là họ, nhưng có khả năng giúp bản thân họ hoặc giúp mọi người chuyển tải những ước vọng của con người đến với thần linh.
Saman giáo hiện nay có mặt trên khắp trên thế giới, điều đặc biệt là càng xã hội đô thị hóa, hiện đại hóa thì Saman càng phát triển, bởi con người phải chịu nhiều những dồn nén của xã hội.
Vậy trong "lên đồng", đâu là tôn giáo tín ngưỡng, còn đâu là những biểu hiện lợi dụng?
- Tôi cũng đã từng nhận nhiều câu hỏi như thế. Có những người không hiểu "lên đồng" là gì mà chỉ nghe những lời đồn đoán. Bản thân tôi bắt đầu đi sâu nghiên cứu về "lên đồng" cũng vì băn khoăn tự hỏi, tại sao nhà nước cấm nhưng không được? Tại sao dù có thời kỳ bị cho là phạm luật, người ta vẫn tìm mọi cách để thực hiện, kể cả phải chịu đi tù, chịu tịch thu tài sản?
Sau đó tôi mới hiểu ra. Tôi đã đưa ra một quan điểm thế này. Có những người có căn số mà không ra "trình đồng" thì họ sẽ trở thành điên loạn. Việc họ ra "trình đồng" là cách giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng.
Đó là một nhu cầu có tính chất cơ học, rơi vào trạng thái đó họ không còn là người nữa, hành vi của họ lệch chuẩn. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ, 100% những người có căn số "lên đồng" bị điên loạn, được "ra đồng" đều khỏi. Cái đó không có gì là mê tín dị đoan cả.Quan điểm của tôi, nhân tố quan trọng nhất của tôn giáo tín ngưỡng là niềm tin vào những thứ mang tính chất siêu nhiên, những cái con người không giải thích được mà đang tác động tới đời sống?
Tại sao chúng ta thờ cúng tổ tiên? Vì tình cảm cũng là một khía cạnh. Nhưng vì các cụ mất đi nhưng linh hồn các cụ vẫn còn, vẫn ngày ngày tác động tới đời sống con cháu nên người ta thờ, để tạo nên nối kết thông quan giữa con người và thần linh.
Thì "lên đồng" cũng là một cách để nối thông với thần linh. Đừng nhìn "lên đồng" tách biệt, bởi "lên đồng" là một hoạt động của đạo Mẫu.
Một buổi lên đồng
 
Nên dẹp "đồng đú", "đồng đua"... Liệu có phải tất cả những người đang xưng là "ông đồng, bà đồng" đều có khả năng đó?
- Phải phân biệt hai loại, một loại là những người có căn số, phải "ra đồng". Tôi cũng muốn nhấn mạnh là bản thân những "ông đồng bà đồng" không muốn vậy, mà họ bị đày, nếu không "ra đồng" thì thành điên loạn, ốm đau không chữa bệnh được. Còn khi đã "ra đồng" thì họ lại rất sướng, họ thành những "vị thần, vị thánh"(!)
Nhưng gần đây, có lẽ khoảng từ những năm sau đổi mới, có thêm một loại nữa là "đồng đú, đồng đua"... những người không có căn số, nhưng trong xu trào hiện nay thì họ cũng thành những "ông đồng bà đồng".

"Lên đồng" là cách để họ giải tỏa, dù không phải chuyện sống chết, bệnh tật nhưng là nhu cầu giải tỏa dồn nén để có cân bằng. Ở Việt Nam cũng thấy rõ gần đây bùng phát chuyện "lên đồng", thường ở tầng lớp giàu có, hay đô thị nhiều "ông đồng bà đồng" hơn nông thôn.
Đúng là trong xu hướng xã hội đang lao đi tìm kiếm những lợi ích vật chất thì cũng có nhiều người lợi dụng "lên đồng" để kiếm tiền, vì đến với Mẫu là để cầu mong sức khỏe, tài lộc, buôn bán có nhiều tiền, nên có thể cầu thăng quan tiến chức. Chính nhóm những "ông đồng bà đồng" không có căn này có chuyện biến chất, lợi dụng niềm tin của con người để thu lợi cho họ.
Phải chăng con người dù thuộc tôn giáo nào đều có nhu cầu nối kết với những thế lực siêu nhiên?
- Con người tìm mọi cách liên hệ với siêu nhiên là để giúp họ có được sự cân bằng. Mà muốn thông quan thì phải dùng phương tiện, phương sách, nghi lễ, những vật dụng, đồ cúng, hương khói, vàng mã... Bản chất của nó là như vậy.
Vấn đề là mức độ. Bao giờ giỗ Tết bố mẹ tôi, hay ngày rằm tôi đều mua một chút vàng mã. Tôi nghĩ rằng như thế ấm lòng hơn, tôi thấy làm việc đó rất hay. Nhưng cái đáng phê phán là chuyện đốt vàng mã như đống rơm đống rác như bây giờ, chứ không phải là bản thân việc đốt vàng mã.
Ở Hàn Quốc, trước đây mấy chục năm cũng cấm kut (giống "lên đồng" của ta), nhưng gần đây lại tôn vinh, bởi nhiều người đã khẳng định sẽ không thể hiểu được văn hóa Hàn Quốc nếu không hiểu Kut, ở đó chứa đựng bản sắc văn hóa của Hàn Quốc. Những "ông đồng bà đồng" được Hàn Quốc xem như những báu vật nhân văn sống.
Tất nhiên, trong quá trình đến được nhận thức như bây giờ, họ đã nhấn mạnh khía cạnh di sản của kut, tiếp cận như một di sản văn hóa, chứ không nhấn mạnh khía cạnh tôn giáo tín ngưỡng.
Vừa rồi, một PV của VTV1 đưa tôi xuống chùa Láng, để làm tiền cảnh cho một cuộc phỏng vấn. Họ muốn tôi đốt một nén hương mang vào cắm để họ quay. Nhưng các sư thầy sư cô ở đó nhất định không đồng ý để tôi thắp hương trong nội tự. Nghĩa là nếu chúng ta muốn và có sự phối hợp tốt, hoàn toàn có thể giữ ở mức độ rất văn hóa. Ông cha ta bao đời đã giữ được những nét văn hóa rất đẹp, nhưng chúng ta lại đang phá vỡ nó. Vẫn quay lại đời sống con người thực ở xã hội, chứ không phải chuyện tâm linh xa xôi gì cả. Nếu cả xã hội cùng đồng lòng thì sẽ làm được.
Dọn dẹp để trả lại giá trị cho ngôi nhà thờ Mẫu
Bản thân "lên đồng" thời gian qua có quá nhiều biến chất, khiến nhiều người nghi ngại?
- Ngôi nhà thờ Mẫu có giá trị to lớn, nhưng ta đã làm vẩn đục nó, nay cùng nhau dọn dẹp để trả lại giá trị cho ngôi nhà. Trong những người đồng bóng, rất ít người hiểu biết về đạo Mẫu, đó cũng là nguyên nhân gây ra sự lệch lạc. Lẽ ra văn hóa phải là của cộng đồng, nhưng đã có một thời gian chúng ta cấm đoán khiến văn hóa dường như tuột khỏi tay những chủ nhân thật sự, khiến nhiều người nay chỉ biết thực hành một cách vô ý.
Tôi sắp tổ chức một câu lạc bộ, nơi các nhà nghiên cứu và những "ông đồng, bà đồng" ngồi lại với nhau để tạo mối liên kết. Nhà nghiên cứu sẽ có môi trường để tìm hiểu thực tế, "ông đồng bà đồng" thì có cơ hội hiểu về đạo Mẫu. Khi đã hiểu thì họ sẽ điều chỉnh hành vi của họ.
Rồi chính cộng đồng ấy sẽ đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc, lợi dụng.
Vậy theo GS, thông tư sẽ điều chỉnh mức độ như thế nào để giữ đúng bản chất của các hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng mà không bị đẩy quá thành lệch lạc? Nhà nước có thể tác động đến đâu?
- Nhà nước hãy nghiêm cấm những việc làm, hành động lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để đi ngược lại lợi ích, xâm hại sức khỏe, danh dự, tính mạng của con người, ảnh hưởng đến an ninh của cộng đồng...
Luật pháp rất cần hiểu biết khoa học, và sự nhất quán, không thể cứ nay cấm, mai lại cho phép, tạo ra những kẻ hở.
Khánh Linh (Tuanvietnamnet)
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-07-02-len-dong-co-phai-la-me-tin-di-doan-

CHUYÊN GIA NGÔ ĐỨC THỊNH: Hầu đồng: Càng mập mờ, càng biến tướng



Từng bị xem là mê tín dị đoan, phải hoạt động “chui”, nay hầu đồng đã được Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam đề nghị đưa vào danh sách đề cử Di sản văn hóa phi vật thể, đúng vào thời điểm Liên hoan diễn xướng hầu đồng lần đầu tiên được tổ chức trong khuôn khổ lễ hội đền Lảnh Giang (Duy Tiên, Hà Nam) mới đây.


Đề nghị trên đang gây tranh cãi với nhiều ý kiến khác nhau. Chuyên mục Gặp gỡ cuối tuần kỳ này có cuộc trao đổi với giáo sư, tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, chuyên gia nghiên cứu về hầu đồng và đạo Mẫu xung quanh loại hình tín ngưỡng dân gian độc đáo và còn nhiều tranh cãi này.

Kho tàng sống của di sản văn hóa Việt

* Thưa Giáo sư, gần đây hầu đồng đang được nhắc đến nhiều bởi thông tin nó sẽ được chuẩn bị đưa vào danh sách đề cử di sản văn hóa nhân loại. Đối với nhiều người, hầu đồng còn chưa được hiểu rộng rãi. Là người có nhiều năm nghiên cứu về đạo Mẫu và lên đồng, ông có thể cho biết khái quát về khái niệm này?

Hầu đồng là một nghi lễ của đạo Mẫu, chứa đựng những giá trị về văn hóa, nghệ thuật rất đặc sắc. Đây là một hình thức nhân hóa, nữ tính hóa tự nhiên, và cho đến nay, đạo Mẫu là tín ngưỡng bản địa duy nhất chứa đựng quan điểm về vũ trụ, đồng nhất với thờ Mẫu. Điều này không tìm thấy ở thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng cũng như thờ các anh hùng dân tộc.

Đạo Mẫu và hầu đồng quan niệm thế giới thành bốn vùng miền khác nhau: thiên (miền trời), địa (miền đất), thoải (miền nước), thượng ngàn (miền rừng). Hầu đồng thể hiện điều đó rất rõ, biểu trưng thế giới qua màu sắc: đỏ, vàng, trắng, xanh... mang ý nghĩa bản địa hóa. Đồng thời, trong hầu đồng, lực lượng tự nhiên, siêu nhiên được biểu hiện dưới dạng nhân thần.

Đạo Mẫu không quan tâm đến cái chết và linh hồn, mà xác lập quan điểm hướng con người về đời sống trần gian, đó là sức khỏe và tài lộc. Chính vì vậy, đạo Mẫu và hầu đồng luôn luôn được cập nhật, biến đổi.

Một điều nữa, đạo Mẫu cũng xác lập được một ý thức xã hội lịch sử thông qua các vị thần (khoảng 50 - 60 vị), được sắp xếp theo thứ bậc từ Vua Cha, Thánh Mẫu, các quan, chầu, ông hoàng bà chúa, các cô, cậu... trong hệ thống thần linh. Đặc biệt, những vị thần này còn được lịch sử hóa, gắn với những nhân vật lịch sử, những vị có công với nước, với dân. Có thể nói, đạo Mẫu, thông qua nghi lễ lên đồng, đã thể hiện một thái độ xã hội và góp phần tái hiện lịch sử. Và với sức sống trong dân gian, nó đã trở thành một hình thức giáo dục truyền thống vô cùng hiệu quả. Rõ ràng ở đây, chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hóa và ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân.

Hầu đồng và đạo Mẫu là hai khái niệm không thể tách rời. Việc nhìn nhận, nghiên cứu hầu đồng cần phải đặt nó trong nghiên cứu về đạo Mẫu, để thấy hết giá trị của nó.

* Vậy, trong nghi lễ hầu đồng chứa đựng những giá trị văn hóa nghệ thuật nào, thưa Giáo sư?

- Hầu đồng là một nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thánh vào thân xác ông đồng, bà đồng, là sự tái sinh hình ảnh các vị thánh. Những người hầu đồng được cho là có khả năng tiếp xúc với thần linh, người dân tham gia hầu đồng với niềm tin rằng họ được tiếp xúc với thần linh để cầu mong tài lộc và sức khoẻ. Hầu đồng là một nghi lễ tổng hợp, tích hợp những giá trị văn hóa nghệ thuật được dân gian đúc kết từ bao đời nay. Có thể thấy trong hầu đồng một di sản về văn học, âm nhạc, rồi vũ đạo, mỹ thuật, kiến trúc, lễ hội dân gian và nghệ thuật trình diễn... Về văn học, có cả một kho tàng văn học được lưu giữ trong hầu đồng. Về âm nhạc, hầu đồng đã sinh ra một loại hình nghệ thuật rất đặc biệt, đó là hát chầu văn. Về vũ đạo, riêng nghiên cứu trong hầu đồng, đã có hàng chục điệu múa: múa kiếm, long đao, đi chợ, múa quạt, chèo thuyền, thêu hoa, dệt gấm... rất mềm mại đề cao nữ tính. Đạo Mẫu và hầu đồng cũng để lại những giá trị mỹ thuật qua hệ thống trang trí tượng thờ, tranh thờ; di sản kiến trúc qua hệ thống đền phủ; các hình thức trình diễn dân gian qua lễ hội...

 Trong một cuộc hội thảo quốc tế về hầu đồng, TS. Frank Broschan từng nhận định rằng đây là một “kho tàng sống của di sản văn hóa Việt”. Và cũng chính vì vậy, hầu đồng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài.

Không nên đua thành tích
* Thưa giáo sư, hầu đồng và những giá trị nguyên bản của nó liệu có còn tìm thấy trong những giá đồng ngày nay?

- Ngày xưa, chỉ cần một cái khăn đỏ là có thể lên đồng, quà phát lộc chỉ là vài quả táo tượng trưng... Nhưng ngày nay, mỗi giá đồng là một bộ quần áo, mỗi ông đồng bà đồng một lần lên đồng có hàng chục bộ trang phục cầu kỳ rất đẹp, đến nỗi có những nhà nghiên cứu nước ngoài đã làm hẳn một cái chuyên luận riêng về trang phục lên đồng. Bây giờ, có giá đồng riêng tiền phát lộc có khi lên đến hàng triệu... Chưa kể bao nhiêu biến tướng xô bồ chung quanh việc hầu đồng trong thế giới hiện đại.

Những năm 40-50 của thế kỷ trước, các cung văn hát trong lễ hầu đồng là những người hát chuyên nghiệp. Trước kia đã từng có một cuộc thi hát văn với niêm luật rất chặt chẽ, tính chuyên nghiệp rất cao. Và hát chầu văn thực sự là một bộ môn nghệ thuật chuyên nghiệp. Giáo sư Trần Văn Khê từng đánh giá chầu văn cùng với ca trù là hai di sản âm nhạc cổ truyền có giá trị của Việt Nam. Nhưng bây giờ thì những người hát văn phần lớn là nghiệp dư. Có một bộ phận nghệ sĩ vốn hát cải lương, chèo, tuồng... đi hát văn vì mưu sinh. Tuy rằng trong hát văn vẫn tích hợp những yếu tố của các loại hình âm nhạc truyền thống khác, nhưng qua quá trình tồn tại và phát triển, nó đã trở thành một loại hình âm nhạc cổ truyền gắn với lời ca và cây đàn nguyệt, chuyên nghiệp và đặc trưng không lẫn với các loại hình khác. Chính các nghệ sĩ chèo, tuồng, cải lương... đã mang những yếu tố lai tạp đến cho hát văn. Đó cũng là một sự biến tướng làm suy giảm giá trị của nghệ thuật hát chầu văn.

* Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã lên tiếng báo động về những lai tạp, biến tướng của hầu đồng. Ý kiến của Giáo sư về vấn đề này?

- Quan điểm tổng quát của tôi về vấn đề này là: không có một tín ngưỡng nào trên đời dạy con người làm những điều xấu xa, chỉ có con người lợi dụng nó cho những mục tiêu xấu xa mà thôi.

Hầu đồng cũng vậy, bản chất nguyên sơ của nó là một hành vi tín ngưỡng chứa đựng nhiều ý nghĩa tâm linh và văn hóa. Nhưng nó cũng không thoát khỏi bị lợi dụng. Ngày nay, lên đồng chủ yếu bị lợi dụng vì những lợi ích vật chất, và có nguy cơ trở thành một môi trường kiếm tiến, làm giàu. Trước đây, những người ra hầu đồng vốn được coi là có “căn”, và tín ngưỡng này ăn sâu trong gốc rễ đời sống tinh thần, nên những nghi lễ, trình diễn này được hiểu và diễn đúng với tâm linh, với trình tự.

Nhưng ngày nay, đã xuất hiện một tầng lớp mà dân gian gọi là “đồng đua”, vì họ không có căn cốt, nên trong hành vi ứng xử, họ cũng không biết thế nào là đúng, sai... Tuy rằng, “đồng đua” cũng là một nhu cầu của một bộ phận người dân, tôi cũng không phản đối điều đó. Nói thì hơi to tát, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải giáo dục, trang bị những hiểu biết đúng đắn về các hoạt động tín ngưỡng cho người dân. Một khi họ hiểu sâu gốc rễ cội nguồn tín ngưỡng và có niềm tin thực sự thì họ sẽ hành xử đúng.

* Gần đây, có thông tin rằng, có thể sẽ đưa hầu đồng vào danh sách đề cử UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Từ góc độ của nhà nghiên cứu, Giáo sư có thể cho biết quan điểm của mình?


- Theo tôi, chúng ta không nên vội vàng đề cử hầu đồng. Vấn đề không phải là thế giới nhìn nhận như thế nào, mà theo tôi, chúng ta phải nhìn nhận như thế nào về di sản của mình trước hết.

Cá nhân tôi cho rằng, việc chúng ta cần làm bây giờ nghiên cứu, nhìn nhận đúng bản chất, nhận chân rõ giá trị của hầu đồng để bảo tồn, phát triển nó cho đúng hướng, chứ không phải vội vàng đưa ra thế giới vì một cái gì đó như là thành tích. Tôi thấy bây giờ hình như có “hội chứng công nhận di sản”, công nhận được thì cũng tốt thôi, nhưng quan trọng hơn là mình nhìn nhận nghiên cứu và bảo tồn di sản như thế nào, để nó giữ được giá trị, vẻ đẹp và có ý nghĩa như thế nào với cộng đồng, chứ không phải công nhận rồi để đấy. Chưa kể, với hầu đồng, trong khi trong nước còn chưa có được tiếng nói đồng thuận, mang ra thế giới rất dễ gây tranh cãi. Tôi không cho rằng việc quốc tế công nhận hay không là mục đích, mà mục đích của chúng là phải nhận chân, bảo vệ và quản lý tốt di sản mình đang có.

* Theo GS, trước hết chúng ta cần phải làm gì để gìn giữ hầu đồng như một di sản quý giá?

- Trước hết, cần thừa nhận để quản lý nó. Công nhận hầu đồng tồn tại là một nghi lễ tín ngưỡng không thể tách rời đạo Mẫu, để phát huy mặt tốt, ngăn chặn những biến tướng, tha hóa của nó. Còn nếu mình càng mập mờ thì nó càng biến tướng phức tạp, cần có một tiếng nói đồng thuận về nghiên cứu và quản lý. Thực tế hầu đồng đang phát triển trong xã hội đương đại, và bên cạnh việc giáo dục người dân về tín ngưỡng, chúng ta cũng thấy rõ ràng không thể phục nguyên hầu đồng như diện mạo hồi những năm 50 của thế kỷ trước. Chúng ta chỉ có thể ngăn chặn, hạn chế những biến tướng phản văn hóa, xa lạ với con người và thuần phong mỹ tục, nhưng một mặt, cũng cần phải nghiên cứu thấu đáo và thừa nhận bộ mặt thời đại của di sản.

* Xin cảm ơn Giáo sư.

Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ 16, có thể đạo Mẫu bắt đầu từ thế kỷ 15. Nhưng hiện tượng nhập đồng có từ thời nguyên thủy, có thể gọi là một thứ tôn giáo sơ khai. Hầu đồng còn có tên gọi khác là lên đồng, hầu bóng, thuật ngữ quốc tế là shamal. Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

 
http://vctv.vn/14086p145c146/chuyen-gia-ngo-duc-thonh-hau-dong-cang-map-mo-cang-bien-tuong.htm
(Theo TT&VH Cuối tuần)

GS.TS. Ngô Đức Thịnh: “Cấm là bất khả kháng”

Dư luận đang quan tâm đến một số thông tin báo chí nêu lên nguyện vọng xây dựng hồ sơ cho nghi lễ hầu đồng đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản thế giới. Sinh hoạt tín ngưỡng này đã có thời gian dài bị coi là mê tín dị đoan, hiện nay các giá trị của nó đã và đang được nghiên cứu, giới thiệu. Việc thực hành nghi lễ hầu đồng đang phổ biến sâu rộng trong đời sống. GS.TS Ngô Đức Thịnh đã chia sẻ một số suy nghĩ về vấn đề này. (Hiện GS là ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Phó Chủ tịch Hội folklore châu Á, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam).

Nghiên cứu lâu năm và được coi là chuyên gia hàng đầu về đạo Mẫu ở Việt Nam, xin GS cho biết một số giá trị cơ bản của tín ngưỡng này?

Tín ngưỡng này chứa đựng những nhận thức mang tính chất vũ trụ luận, trong đó có việc đồng nhất nữ tính với tự nhiên, vũ trụ. Việc tôn thờ nữ thần của đạo Mẫu cũng như nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác trên thế giới, thể hiện tư tưởng tích cực, đồng nhất con người với tự nhiên. Đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng không chú trọng vấn đề linh hồn hay cái chết mà quan tâm đến sự sống, đến khát vọng sức khỏe, tài lộc. Về khía cạnh dân tộc và lịch sử, đạo Mẫu đứng về phía dân tộc, là chủ nghĩa yêu nước đã được tín ngưỡng hóa. Đạo Mẫu và hầu đồng cũng tạo ra những giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc, đó là kho tàng "văn học đạo Mẫu" (chữ Hán, Nôm, quốc ngữ), diễn xướng hầu đồng là thứ "sân khấu tâm linh" với âm nhạc hát chầu văn, múa nghi lễ độc đáo... Đây là một di sản văn hóa dân tộc độc đáo, một "bảo tàng sống" về văn hóa truyền thống rất đáng được trân trọng và nghiên cứu, đồng thời bảo tồn và phát huy những nét đẹp của nó.

Có nhiều giá trị đặc sắc như vậy nhưng một thời gian dài việc thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng bị kỳ thị và cho đến nay vẫn chưa phải đã hết tâm lý "đề phòng", e ngại.

Đây là "cái án" vẫn chưa được dơ. Từ những năm 1985, 1986 tôi bắt tay vào nghiên cứu đạo Mẫu và hầu đồng cũng xuất phát từ câu hỏi: Tại sao bị cấm như thế mà nó vẫn tồn tại? Hàng loạt ông bà đồng bị bắt, bị tịch thu đồ nghề, nhưng cấm thế nào vẫn không được vì đó thực sự là nhu cầu trong nhân dân. Đặc biệt là trong bối cảnh xã hội phát triển hiện nay thì tín ngưỡng, nghi lễ này lại có cơ hội phát triển. Vào tháng 3 âm lịch, có thể tính được hàng trăm cuộc lên đồng mỗi ngày ở Hà Nội, Huế, TP.HCM... Có điều, trong xu thế bung ra này, khá nhiều mục đích là vì tiền. Đạo Mẫu và nghi lễ lên đồng vốn không có gì tiêu cực nhưng đang bị người ta lợi dụng. Bên cạnh các bà đồng, ông đồng là do có "căn số", thì nay có nhiều người là "đồng đua". Nhưng dù vậy, không thể vì nó bị lợi dụng mà muốn xóa bỏ nó, chúng ta vẫn cần nhìn nhận đúng đắn về các giá trị tích cực của tín ngưỡng và nghi lễ này, có biện pháp uốn nắn chứ thực tế đã chứng minh, cấm là bất khả kháng.

Theo GS, hiện nay trong việc này thì đâu là mấu chốt để cải thiện tình hình?

Tôn giáo tín ngưỡng đều hướng thiện, không cái nào muốn làm cái xấu, cái ác mà chính con người làm cho nó tồi tệ đi. Việc quản lý lên đồng đang bị thả nổi, càng thả thì người ta càng lợi dụng. Bởi vậy, giải pháp quan trọng hiện nay là phải đưa vào khuôn phép, Nhà nước nên quản lý và tạo hành lang để nó phát triển, phát huy các giá trị tốt đẹp. Trung tâm của chúng tôi đã nhận được nhiều đơn của các đền phủ, mong đề nghị với nhà nước công nhận, hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động của họ.

Nghi lễ lên đồng vốn không tiêu cực nhưng dễ bị người ta lợi dụng biến tướng thành mê tín dị đoan.

Hiện đang có mong muốn xây dựng hồ sơ khoa học về hầu đồng trình lên UNESCO. GS nghĩ thế nào về vấn đề này?

Phải nói ngay là nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài rất quan tâm và yêu thích nghi lễ hầu đồng của Việt Nam. Hội thảo quốc tế nhân học thế giới ngày càng có nhiều tiểu ban đi sâu nghiên cứu tín ngưỡng này ở các dân tộc khác nhau trên thế giới, đặc biệt là trong môi trường xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hội thảo quốc tế về đạo Mẫu và lên đồng ở Hà Nội tổ chức năm 2001 đã hấp dẫn nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước, nhiều người nước ngoài vẫn giữ lại những kỷ niệm khó quên về nghi lễ hầu đồng của người Việt.

Nhưng tôi cho rằng, việc cần kíp hơn là tổ chức và quản lý đạo Mẫu và hầu đồng sao cho phát huy đước các giá trị của nó, giới thiệu những nét đẹp tới đông đảo nhân dân. Bên cạnh đó cần có thái độ đúng mực hơn với nghệ nhân, nhiều người giỏi lắm, họ đàn, họ hát, vốn liếng, bài bản phong phú. Nhưng không mấy ai quan tâm đến họ cả.

Tôi thấy ở mình đang có hội chứng "di sản thế giới", chỗ nào cũng thích đưa di sản trình lên để đề nghị công nhận. Tại sao cứ phải công nhận như thế, có phải cái gì cũng nên làm đâu! Và dù thế giới có công nhận hay không hoặc chưa công nhận thì mình vẫn phải nghiên cứu, bảo tồn và phát huy nó đã chứ.

Xin cảm ơn GS!
 
Hoàng Thi (Sức Khỏe Đời Sống )

Sự biến tướng trong “ngôi nhà Mẫu”???

(Petrotimes) - Được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) công nhận là văn hóa phi vật thể, đồng thời đang chuẩn bị hồ sơ trình lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa thế giới, nhưng dưới con mắt của nhiều người, hầu đồng vẫn là mê tín dị đoan và chỉ tồn tại trong giới “ông đồng bà cốt” mà không được xem là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian. Vì sao lại như vậy và làm thế nào để hầu đồng trở về với đúng bản chất văn hóa của nó? Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS Ngô Đức Thịnh, một nhà nghiên cứu đã hơn 30 năm về vấn đề này, đồng thời là Giám đốc Trung tâm Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng, Bộ VH-TT&DL về vấn đề này.  
Xuất thần để thông linh
- Người ta nói hiện nay đang là “mùa tiệc bóng” và càng tiến tới tháng 3 thì “mùa tiệc” này càng lên đến đỉnh điểm phải không thưa ông?
GS Đức Thịnh
- “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” nên từ giờ đến hết tháng 3 âm lịch hầu đồng sẽ rất rộn ràng, nhộn nhịp ở khắp các tỉnh thành chứ không riêng địa phương nào. Từ đầu Xuân tới giờ, tôi đã được mời tham dự rất nhiều buổi hầu đồng và đó được xem như là con làm giỗ “Mẹ”. Mà con chính là các thanh đồng và “Mẹ” là Mẫu theo tín ngưỡng dân gian.
- Nhưng thưa ông, “Mẫu” gồm cả một hệ thống đạo Mẫu chứ không phải riêng “Mẫu”, trong đó có tam phủ, tứ phủ, hệ thống những tiểu thần linh…?
- Có thể phân chia đạo Mẫu thành những hệ thống như thế này: Thứ nhất gồm các Mẫu: Mẫu Thượng Thiên (cai quản trời, mặc áo đỏ), Mẫu Địa (cai quản đất, mặc áo vàng), Mẫu Thượng ngàn (cai quản rừng núi, mặc áo xanh) và Mẫu Thoải (cai quản sông nước, mặc áo trắng). Trong đó Mẫu Thượng Thiên là lớn nhất, được xem như vị giáo chủ cai quản chung. Nhiều tài liệu cho rằng, Mẫu Thượng Thiên chính là bà chúa Liễu Hạnh, một trong “tứ bất tử” của lịch sử Việt Nam.
Sau đó, đến hệ thống Ngũ vị Tôn ông, gồm những vị thần linh quyền năng vô lượng, có trách nhiệm “hiện thực hóa” những ý đồ của Mẫu và họ chính là những nhân vật được lịch sử hóa hoặc thần thánh hóa. Rồi đến hệ thống tứ phủ Chầu (chúa) bà và tứ phủ ông hoàng - chính là ông Hoàng Ba, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười và ông Hoàng Bơ. Đây là những vị thần linh có chức năng phát huy sáng tạo vào đời sống thực tế.
Cuối cùng là hệ thống những tiểu thần linh, được hưởng thành quả sáng tạo của những thần linh thuộc 3 hệ thống trên, còn gọi là Cô và Cậu. Hệ thống những tiểu thần linh này được xem là những vị thần đầy trí tuệ, thiện tâm. Sau khi chết đi được tái sinh vào không gian của Mẫu, chủ yếu là vùng rừng núi (do đây là nơi thường để chôn cất những người chết) nên Cô và Cậu gắn với Mẫu Thượng ngàn. Cũng chính bởi “xuất thân” như vậy mà Cô, Cậu chính là hiện thân của đạo và đức.
- Vậy theo ông, đạo Mẫu và hầu đồng liên quan mật thiết với nhau như thế nào trong khi đây lại là hình thức diễn xướng như văn nghệ?
- Theo quan niệm của người Trung Quốc xưa: “Phúc - Lộc - Thọ” bao giờ cũng gắn với nhau và đó cũng là sự trọn vẹn của một con người trong đời sống. Người ta hầu đồng một phần vì mục đích này nhưng quan trọng hơn chính là để đưa thế giới thần linh du nhập vào đời sống thực tại và đưa những “người trần mắt thịt” ở thế giới thực tại chu du trong thế giới của thần linh dưới trạng thái siêu thoát.
Trạng thái siêu thoát là thế nào? Là khả năng “thoát xác” quên đi cuộc sống thực tại của con người để tiếp cận được những bồng bềnh hư ảo ẩn chứa trong tâm hồn và tư duy của họ. Còn có thể hiểu theo cách này mà tôi cho là cũng đáng tham khảo: định nghĩa chữ “hầu đồng”. “Hầu” đơn giản là: hầu hạ. “Đồng” đa nghĩa hơn với 2 cách hiểu: nhi (trẻ con) hoặc “cùng”. Nếu hiểu theo nghĩa “trẻ con” thì khi hầu (thanh đồng, con đồng) đắm chìm trong tư duy tín ngưỡng để sao cho quên đi những dày vò trong cuộc sống để trở về với tâm hồn trong sáng của trẻ thơ, không bị vướng bận bởi tất cả những tư duy triết học ở những mức độ khác nhau và cả sự dày vò của xã hội.
Đây chính là hiện tượng “yoga” dân dã và chỉ khi đạt được như vậy mới nghe thấy tiếng thì thầm của vũ trụ hay thì thầm của thần linh. Còn chữ “đồng” nếu hiểu theo nghĩa “cùng” có nghĩa thông qua cái xuất thần, đẩy linh hồn cá thể ra khỏi xác thân để cho linh hồn thánh thiện (chính là thần linh) nhập về thân xác đó mà tiếp cận với các tín đồ. Như vậy, “đồng” là hình thức “vừa xuất thần vừa nhập thần”.
- Ông có thể cho biết vì sao lại chọn “diễn xướng” cho hình thức “hầu đồng”, liệu có phải để trạng thái siêu thoát đến nhanh hơn?
- Từ sự hình thành có thể thấy, đạo Mẫu gắn liền với sự phát triển của dân tộc, là chứng cứ lịch sử phản ánh rõ rệt những đổi thay cơ bản của dân tộc Việt từ vùng rừng núi ra tới biển, từ nguyên thủy tới văn minh. Nó vừa mang tính dân dã, vừa mang tính truyền thuyết, vừa thực vừa hư… Bởi sự đan xen các yếu tố như vậy, đặc biệt là các thần linh ra đời dựa trên nguyên tắc lịch sử hóa và thần thánh hóa những nhân vật lịch sử nên dân gian đã sáng tạo ra hình thức diễn xướng có tính chất văn nghệ để kể hay đúng hơn là “giáo dục” đạo đức, lịch sử cho dễ nhớ, dễ hiểu. Theo tôi, đây là một hình thức vô cùng hiệu quả và đậm bản sắc văn hóa dân gian.
“Vật chất hóa” hầu đồng
- So với nguồn gốc cũng như ý nghĩa ban đầu thì bây giờ hầu đồng đã biến tướng rất nhiều, ngay từ mục đích, không còn mang ý nghĩa làm thanh khiết bản thân hay “gột rửa” tâm hồn cho trong sạch. Ông có nghĩ như vậy không?
- Tôi rất buồn phải nói rằng 80% nghi lễ này hiện nay là biến tướng. Biến tướng nghiêm trọng. Hoàn toàn “vật chất hóa” từ đầu đến cuối. Cách đây khoảng hơn chục năm, khi nghi lễ này vẫn còn “sạch”, hầu đồng chỉ diễn ra quy mô đúng là “tùy tâm biện lễ”, không hoành tráng, đồ sộ từ lễ vật, vàng mã đến tiền phát lộc (vì trong nghi lễ hầu đồng có phần phát lộc)… Quần áo để hầu cũng đơn giản, không cầu kỳ, đắt tiền như hiện nay, cốt sao đủ một bộ khăn, áo, mũ… đúng màu sắc cho mỗi giá hầu…
Nhưng hiện nay thì cái gì cũng phải to, phải lớn, ngay như ngựa, voi làm bằng mã cũng phải đúng kích cỡ như thật, tiền phát lộc không còn là “bạc lẻ” gọi là tượng trưng nữa mà mệnh giá tiền phải lớn. Lễ vật phải nhiều… Tất cả chỉ vì họ nghĩ rằng “tốt lễ dễ kêu”. Đặc biệt là tầng lớp thương mại, còn làm biến tướng nghi lễ này khi không quan tới Mẫu Địa mà chỉ quan tâm tới Mẫu Thượng ngàn và Mẫu Thoải vì quan niệm đây là những vị thần tài mang đến “tiền rừng bạc bể”. Quan niệm về hầu đồng còn bị họ biến tướng đến mức thế này: “Thứ nhất ngồi đồng, thứ nhì lấy chồng quan”…
Bây giờ "đồng đua" nhiều hơn "đồng nhập"

- Rặt chỉ thấy tiền bạc đúng không thưa ông?
GS Đức Thịnh: Đúng vậy. Không còn mang giá trị tinh thần nữa. Tôi vừa dự một buổi hầu đồng có trị giá hơn 100 triệu đồng. Vì tính riêng tiền quần áo đã đến cả chục triệu đồng/bộ, lại có khoảng 4-5 bộ. Nói chung thấy lãng phí vô cùng.
- Tuy nhiên, theo ông biến tướng nhất trong hầu đồng là gì?
- Chính là sự trục lợi. Trục lợi ở chuyện đồng bói và “xin lộc”. Nghĩa là những người hầu (hầu đồng) lợi dụng chuyện thực thực hư hư của việc thần thánh nhập để bói toán (thánh phán) nhằm kiếm tiền từ những người tham dự hoặc những người tham dự càng đóng góp nhiều tiền thì sẽ được phát “lộc” càng to. Làm ăn phát đạt, kiếm bộn tiền… Cho nên sự trục lợi này đã biến hầu đồng từ một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thành mê tín dị đoan.
- Vậy ông có thể cho biết vì sao lại dẫn đến sự trục lợi ấy để rồi làm hầu đồng biến tướng?
- Bao giờ cũng vậy, trải qua quá trình thay đổi, phát triển của dân tộc, xã hội thì hầu đồng cũng có những chuyển biến theo, có thể theo chiều hướng tích cực nhưng cũng có thể theo chiều hướng tiêu cực. Hầu đồng theo tôi hiện nay bị biến tướng theo mặt trái của nền kinh thế thị trường, đặc biệt là khi đạo Mẫu rất phát triển ở những thành phố lớn. Ở vùng nông thôn hiện nay, theo nghiên cứu của tôi thì sự biến tướng không như ở thành phố, những khu vực đô thị.
- Thưa ông, nói vậy nghĩa là ở những nơi kinh tế càng phát triển thì hầu đồng càng biến tướng?
- Kinh tế do con người làm ra và xã hội cũng do con người tạo nên, nên chính ở đây phải là con người, cụ thể trong hầu đồng là các thanh đồng. Cũng bởi do biến tướng mà giới hầu đồng phần thanh đồng thành 2 loại: đồng nhập (đồng mê) và đồng đú (đồng đua), trong đó đồng nhập là những người hầu đồng chuyên nghiệp, có căn cốt thực sự. Còn đồng đua, không có căn cốt nhưng hầu đồng để nhằm mục đích “vật chất hóa”. Nhưng bây giờ do biến tướng nên đồng đú nhiều hơn đồng nhập. Và đây chính là bộ phận có thể nói đã làm “ô uế” đạo Mẫu và ngôi nhà Mẫu.
- Nhưng làm thế nào để biết đâu là đồng nhập thưa ông?
- Để nói thành “công thức” cụ thể thì rất khó. Nhưng đồng nhập là những người có thể nói trải qua giai đoạn rất khó khăn trong cuộc sống về mặt tinh thần. Họ sống mà không ra sống, đúng như “bị hành”, đày ải giữa nhân gian. Tôi đã từng chứng kiến một người ở Lạng Sơn trước khi trở thành thanh đồng, cứ vào giữa đêm đông giá rét chị lại cởi trần mình ra và khi thì leo lên cây ngồi hát khi thì nhảy xuống ao ngâm mình trong làn nước lạnh như đá mà không biết thấu xương. Ai bảo chị vào nhà chị cũng không vào. Nhưng cứ đến sáng là tự chị lại vào nhà rồi mặc quần áo chỉnh tề như thường rồi đi làm.
Vì chị là cán bộ của một công ty. Người ta bảo, chị có căn nhưng không ra hầu nên bị hành. Nhưng từ trước tới giờ chị và chồng có biết đồng cốt, lễ bái là gì đâu nên cũng không hiểu việc này là gì. Đến khi tôi đến và giải thích ngọn ngành về nghi lễ hầu đồng, thế là chồng chị bảo “có bệnh thì vái tứ phương”, hay cứ để nhà tôi ra trình (ra hầu) đồng xem sao”. Tôi cũng đồng tình và sau đó thì quả thật, chị hoàn toàn trở lại bình thường, không còn bị “cơ đầy” như trước nữa.
Hay có trường hợp ở Tây Nguyên cũng vậy. Chị này cũng là kế toán của một công ty Nhà nước. Chị được cho là người có căn mà không ra hầu nên cũng bị “hành”, suốt ngày bỏ cơ quan, nhà cửa đi lang thang mà chẳng biết đi đâu. Chỉ biết lúc nào về thì trông thất thần, như người “dở dở ương ương”. Chồng chị là lãnh đạo của một cơ quan văn hóa nên nhất quyết không cho chị trình đồng. Nhưng sau đó, tôi có gặp và thuyết phục thì anh chồng đồng ý cho chị hầu. Cuối cùng, chị cũng trở lại bình thường.
- Ông có thể cho biết, việc này có thể hiểu như thế nào dưới góc độ khoa học?
- Cũng chẳng có gì là huyền bí cả. Thực ra họ là những người vô cùng nhạy cảm về tinh thần, rất dễ bị mất cân bằng trong cuộc sống có thể không vì lý do nghiêm trọng. Họ ra trình đồng và hầu đồng là để thông qua đó cân bằng lại cuộc sống và tìm ra chính mình mà thôi. Đó là một phương tiện để lấy lại tinh thần. Cho nên tôi cho rằng từ trình đến hầu đồng, là một quá trình đi tìm lại chính mình. Tôi cũng đã viết cuốn sách với tiêu đề như vậy.
- Trở lại với sự biến tướng, ông có thể cho biết làm thế nào để lấy lại văn hóa trong hầu đồng?
- Tôi gọi đó là “dọn dẹp ngôi nhà Mẫu”. Không gì bằng chính những người trong cộng đồng ngôi nhà Mẫu mới dọn sạch được. Bởi chính những người ấy mới biết ai là người làm biến tướng, biến nghi lễ linh thiêng thành mê tín dị đoan để trục lợi, ai không… Từ sự nhận biết đó, họ sẽ tuyên truyền, “gột rửa” tâm hồn của những người “tà tâm” để thay đổi nhận thức, hành động của họ, làm sạch sẽ, văn hóa “ngôi nhà Mẫu”.

Hầu đồng - chênh vênh giữa mê và tỉnh

Thứ sáu 25/02/2011 09:32

Lên đồng được đánh giá là một bảo tàng sống động, đây cũng là điều được thể hiện hội thảo ngày 23.2 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội) với chủ đề “Lên đồng - bảo tàng sống của văn hóa Việt”.

Tại hội thảo, GS Ngô Đức Thịnh cùng với những giá đồng được phân tích đã xóa bỏ nhiều quan niệm lầm tưởng và định kiến về lên đồng, vốn chênh vênh giữa văn hóa và dị đoan, đồng mê và đồng tỉnh.

Đồng “tỉnh”, đồng “mê” làm hại đồng “văn hoá”?

Trong một lần trò chuyện, nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền cho rằng: “Về hình thức, hầu đồng chỉ có ý nghĩa nếu người hầu đồng thật sự đạt tới trạng thái yoga tinh thần một cách cao siêu. Có nghĩa, khi đó họ sẽ quên hết thực tại và bắt đầu tiếp cận được những bồng bềnh ảo ảnh thực hư, ẩn chứa trong tâm hồn và tư duy con người. Nếu không có điều ấy thì hầu đồng chỉ là một hình thức diễn xướng mà thôi”. “Để phân biệt điều ấy, dân gian vẫn gọi vui bằng các khái niệm “đồng tỉnh” và “đồng mê”. Chẳng hạn, cách đây vài chục năm, hầu đồng không được tán thành. Có những con đồng tổ chức hầu đồng “chui” tại nhà; đang say sưa lên đồng, nhưng cơ quan kiểm tra bước vào thì vẫn biết bỏ điện thờ chạy té tát. Như vậy là “đồng tỉnh” đấy. Và “đồng tỉnh”, tôi cho rằng không có giá trị” - nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền phân tích.

Theo GS Ngô Đức Thịnh, còn có nhiều người tuy không có căn cốt đồng, nhưng cũng đua đòi lên đồng. Dân gian thường gọi những người này là “đồng đua”. Chính vì những đua đòi hay “giả say ăn tiền” ấy mà lên đồng đang phải chịu nhiều thành kiến. Trong khi đó, nghi lễ này lại mang nhiều ý nghĩa văn hóa. Theo GS Ngô Đức Thịnh, hầu đồng là một nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thánh vào thân xác ông đồng, bà đồng, là sự tái sinh hình ảnh các vị thánh. Những người hầu đồng được cho là có khả năng tiếp xúc với thần linh, người dân tham gia hầu đồng với niềm tin rằng họ được tiếp xúc với thần linh để cầu mong tài lộc và sức khoẻ.

Chưa kể, là một nghi lễ tổng hợp, hầu đồng tích hợp những giá trị văn hóa nghệ thuật được dân gian đúc kết từ bao đời nay. Chẳng hạn, về âm nhạc, hầu đồng đã sinh ra một loại hình nghệ thuật rất đặc biệt, đó là hát chầu văn. Về vũ đạo, riêng nghiên cứu trong hầu đồng, đã có hàng chục điệu múa: Múa kiếm, long đao, đi chợ, múa quạt, chèo thuyền, thêu hoa, dệt gấm... rất mềm mại đề cao nữ tính. Đạo Mẫu và hầu đồng cũng để lại những giá trị mỹ thuật qua hệ thống trang trí tượng thờ, tranh thờ; di sản kiến trúc qua hệ thống đền phủ; các hình thức trình diễn dân gian qua lễ hội...

Lạc quan, “tiên tiến” như lên đồng

Là nghi thức tôn giáo của đạo Mẫu - lên đồng chịu ảnh hưởng của quan niệm không hướng con người về cuộc sống sau khi chết, mà là chính cuộc sống hiện tại. Đây chính là nhân sinh quan rất tiến bộ của người Việt Nam. Chưa kể, đạo Mẫu với nghi thức lên đồng còn rất “tiên tiến, hiện đại” ở chỗ tôn thờ tự nhiên, tôn thờ các yếu tố trời - đất - nước. “Trong thời đại con người đang xâm phạm, tàn phá môi trường thì đây là những triết lý sống rất có ý nghĩa. Thế giới quan của đạo Mẫu có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn dân tộc và toàn nhân loại đang hành động để bảo vệ tự nhiên” - GS Ngô Đức Thịnh chia sẻ. Ngoài những vị thần cực kỳ “môi trường” như thần cai quản trời-biển-đất-sông-núi, đạo Mẫu còn có những vị thần được lịch sử hóa từ các nhân vật lịch sử có thật như Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Đức thánh Trần. “Lên đồng là một minh chứng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được tâm linh hóa. Đây cũng là ý nghĩa của các lễ hội có lên đồng. Nhân dân có một cuốn sách lịch sử chính là những lễ hội, hằng năm họ mở ra, qua lễ hội để tìm hiểu lịch sử” - GS Thịnh khẳng định.

“Chính vì có hai phe quan niệm về lên đồng như thế nên những câu chuyện về lên đồng luôn có sức hấp dẫn. Nếu một bên rất tin thì bên kia vô cùng nghi ngờ, thậm chí thành kiến” - TS xã hội học Trịnh Hòa Bình nhận định.

“Bằng chứng rất rõ là trong buổi thuyết trình, có biểu diễn lên đồng ngày 23.2 tại Trung tâm Văn hóa Pháp Espace, số người tới dự đông đến mức hội trường của trung tâm này đã không thể đủ chỗ” - TS Bình phân tích. “Tuy việc đến xem của họ có nguyên do khác nhau, người vì tin tưởng và muốn diện kiến, người vì chưa tin và tò mò đến xem thử, song có một điều là đời sống tâm linh đã khẳng định được vị trí trong cuộc sống”.

Lên đồng, dăm quả táo hay tiền triệu

Một trong những điều chưa chuẩn về mặt văn hóa trong nhận thức về lên đồng chính là chuyện đã lên đồng bao giờ cũng tốn kém. Trên thực tế, có những giá đồng với quần áo may đẹp đẽ, cầu kỳ và tốn kém lên tới cả trăm triệu đồng. Trang phục hầu đồng phong phú đến mức, GS Thịnh cho biết từng có cả luận văn tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề này. Nhưng, ông cũng cho hay, trước đây chỉ cần chiếc khăn đỏ đã có thể lên đồng, quà phát lộc chỉ cần vài trái táo tượng trưng. Song, tới giờ, đã có những giá đồng chỉ riêng tiền phát lộc đã hàng chục triệu. Xu hướng “vật chất hóa” này cũng khiến hầu đồng dễ bị định kiến là hoang phí. Chính vì thế, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng, là một di sản văn hóa dân tộc, hầu đồng nên được gạn đục khơi trong để giữ gìn. “Tôi muốn nói đến một câu chuyện. Trong đó, có làng tìm được một đứa trẻ lấm lem giữa cánh đồng và đưa về làng. Dân làng có người không chấp nhận đứa trẻ vì nó quá lấm bẩn, có người bàn nên lấy nước tắm rửa cho đứa trẻ và giữ nó ở lại làng” - ông ví von.

Tuy nhiên, việc “tắm rửa” theo ông cũng phải có phương pháp, khoa học. Chẳng hạn, hát văn hiện đang được nhiều nghệ sĩ chèo, cải lương hát để mưu sinh. Chính vì thế, nhiều yếu tố ngoại lai đang đang xem vào loại hình hát này. Bởi vậy, việc dạy - học hát văn cũng cần được “chuyên nghiệp hóa” bằng các lớp truyền dạy hát văn do các nghệ nhân hát văn thực hiện.

Về việc đề nghị UNESCO công nhận lên đồng là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, trong buổi hội thảo, GS Thịnh nêu quan điểm: “Hiện nay, chúng tôi cho rằng chưa nên vì chính bản thân chúng ta còn có những quan niệm khác nhau về hoạt động tín ngưỡng này. Tôi muốn qua buổi hội thảo này kêu gọi những người theo đạo Mẫu hãy tự chấn chỉnh ngôi nhà đạo Mẫu, để mọi người trong nước nhìn vào đó để thấy những điều tốt đẹp. Khi đó thì thế giới chắc chắn sẽ đánh giá đúng lên đồng và đạo Mẫu của chúng ta”.

Giáo sư - Tiến sĩ Frank Proschan (Mỹ) đã phát biểu trong một cuộc hội thảo về nghi lễ lên đồng của Việt Nam rằng: “Hơn bất kỳ một quyển sách khô cứng, một bức tranh hay một bức tượng nào, lên đồng là một bảo tàng sống động. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý nhà bảo tàng, những người bảo vệ cho văn hoá Việt Nam".

 

Không nên đổ tội cho nghi lễ hầu đồng

Sau một thời gian dài, tín ngưỡng dân gian này bị các hoạt động mê tín dị đoan lấn lướt, thậm chí bị cấm. Nay “oan” đã được gỡ và hiện đang có ý kiến nên xây dựng hồ sơ trình UNESCO cho nghi lễ hầu đồng là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. GS - TS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, Phó Chủ tịch Hội Folklore châu Á kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Bảo tồn tín ngưỡng Việt Nam đã trao đổi thẳng thẳn với NNVN về nghi lễ độc đáo này.
http://www.baomoi.com/Khong-nen-do-toi-cho-nghi-le-hau-dong/54/3144865.epi

    Quốc tế quan tâm

    Theo GS-TS Ngô Đức Thịnh, hầu đồng là một nghi lễ tiêu biểu của đạo Mẫu, nó thể hiện quan niệm đồng nhất con người với tự nhiên. Đạo Mẫu là một trong những tín ngưỡng cổ xưa, mang giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp, biểu tượng cho sức mạnh cộng đồng, sự sáng tạo và phát triển không ngừng của dân tộc. Đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng không chú trọng vấn đề linh hồn hay cái chết mà quan tâm đến sự sống, khát vọng sức khỏe và tài lộc ở thế giới trần gian. Về khía cạnh dân tộc và lịch sử, từ thế kỷ XVI đạo Mẫu được tín ngưỡng hóa và luôn gắn liền với đời sống tâm linh. Cũng có thể khẳng định, nghi lễ hầu đồng chính là sân khấu tâm linh.

    “Tôi bắt tay vào nghiên cứu về hầu đồng được hơn 20 năm. Nghiên cứu nghi lễ này chỉ để trả lời một câu hỏi, tại sao hầu đồng bị cấm đoán như thế nhưng các ông đồng, bà đồng vẫn ngấm ngầm thực hiện? Sau này, tôi hiểu ra rằng, hầu đồng cũng là vấn đề tâm sinh lý, đối với nhiều người, hầu đồng là một nhu cầu, nên dù có cấm cũng không được. Tôi đã từng viết một cuốn sách tên là “Lên đồng, hành trình của thần linh và thân phận” để lý giải kỹ về điều này. Với một di sản phi vật thể có giá trị như vậy, trong suy nghĩ của cá nhân tôi, đưa đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng vào danh sách các di sản văn hóa phi vật thể đệ trình UNESCO công nhận là cần thiết”, GS Thịnh nói.

    Vậy bản chất của hầu đồng là gì, thưa ông?

    Bản chất của hầu đồng là việc người ta mượn thân xác các ông đồng, bà đồng để thần linh của đạo Mẫu nhập vào nhằm cầu xin tài lộc, sức khỏe. Về nghệ thuật, hầu đồng là nghệ thuật trình diễn tổng hợp, có âm nhạc, có lời ca, điệu múa. Sân khấu của hầu đồng là sân khấu tâm linh vì nó gắn với không gian thiêng. Về nội dung, hầu đồng gắn với huyền tích về công lao của các nhân vật lịch sử văn hóa, như ông Hoàng Ba, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười, bà chúa Thượng Ngàn, Đức thánh Trần...

    Xét về hiệu quả tác động, hầu đồng có sức cuốn hút mãnh liệt đối với một bộ phận không nhỏ cư dân, đặc biệt là phụ nữ. Tôi đã từng dự những cuộc hầu đồng hồn nhiên, đích thực của những nông dân nghèo. Áo mũ, trang phục riêng cho từng giá đồng gần như không có, đến cả tiền lộc phát cho người xung quanh cũng không. Song chẳng ai dám bảo đó không phải là hầu đồng. Khi ấy, người ta như thoát xác, quên hết thực tại và bắt đầu tiếp cận được những bồng bềnh ảo ảnh thực hư, ẩn chứa trong tâm hồn và tư duy con người...

    Tuy nhiên theo khảo sát của giới nghiên cứu, hầu hết những người ra hầu đồng ngày nay đều có chút biểu hiện lệch lạc về tâm sinh lý, họ lập điện mở phủ, hầu thánh với mục đích chữa bệnh. Đó là một cách giải tỏa tâm lý và là cách để họ tái hòa nhập cộng đồng. Họ thăng hoa nhảy múa trong môi trường tâm linh, trong niềm tin mình được “tiếp xúc” với thần thánh, trong sự quyện hòa của âm nhạc, vũ đạo và sự hô ứng của các con nhang đệ tử. Nó như một thứ “vật lý trị liệu” để giải thoát con người khỏi những áp lực của cuộc sống hiện đại. Một sự giải thoát không phải xa rời cuộc sống mà giúp con người đối diện với chính mình, hướng họ tới cảnh giới cao nhất của cái thiện. Đó là sự tích hợp những giá trị văn hóa dân gian có tự lâu đời, âm nhạc, kiến trúc, văn học, trang phục, vũ đạo. Về âm nhạc, hầu đồng mang một loại hình âm nhạc đặc biệt, chầu văn, được coi là một cuộc “hội nhập của thi ca, âm nhạc, vũ đạo và hội họa mang đậm phong cách thuần Việt”, với những câu hát đẹp được lưu giữ từ xa xưa.

    Tuy nhiên, đến nay giá trị của hầu đồng vẫn chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng, liệu trình UNESCO có trở ngại?

    Nhằm tôn vinh giá trị của hầu đồng, vừa qua Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối hợp Sở VH-TT&DL tỉnh Hà Nam tổ chức lễ hội đền Lảnh Giang. Các buổi diễn xướng hầu đồng đã được tổ chức trong ba đêm liền, mỗi đêm tới gần 2 giờ sáng và luôn chật ních người xem. “Hầu đồng vốn là hình thức diễn xướng truyền thống của dân gian, không có những cuộc liên hoan, dân gian vẫn tự phát tổ chức. Vậy nên, chúng tôi chủ động tổ chức, vừa để hạn chế những biến tướng tiêu cực, vừa để tôn vinh một nghệ thuật diễn xướng độc đáo của dân tộc”- ông Phạm Tư Lành, Chủ tịch UBND huyện Duy Tiên (Hà Nam).

    "Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ 16. Nhưng hiện tượng nhập đồng có từ thời nguyên thủy, có thể gọi là một thứ tôn giáo sơ khai. Hầu đồng còn có tên gọi khác là lên đồng, hầu bóng, thuật ngữ quốc tế là shamal. Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ" - GS Ngô Đức Thịnh.

    Ngay bản thân các nhà quản lý của chúng ta cũng hiểu mập mờ về hầu đồng. Những năm 60-80 của thế kỷ XX, đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng chưa được nhìn nhận khách quan. Hầu đồng là một nghi lễ dân gian không thể tách rời của đạo Mẫu, có gốc rễ từ trong đời sống của nhân dân. Chúng ta cần phải thừa nhận hầu đồng, để quản lý nó như một di sản, định hướng đi đúng và ngăn chặn những biến tướng xa lạ với con người, phản văn hóa. Chúng ta cũng cần giáo dục cho người dân hiểu thấu đáo về những giá trị văn hóa và ý nghĩa tâm linh của hầu đồng. Khi họ hiểu thấu đáo cội nguồn của nghi lễ, họ sẽ có niềm tin và những ứng xử văn hóa hơn, góp phần bảo tồn những giá trị của hầu đồng đúng nghĩa với một di sản của ông cha.

    Từ năm 1990 đến nay, giới nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học về đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng. Đồng thời có 4 cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế đã được tổ chức tại Hà Nội, Nam Định và Tiền Giang. Đạo Mẫu và hầu đồng cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Nga, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... Tóm lại, sự đồng thuận trong giới nghiên cứu về giá trị của hiện tượng văn hóa tín ngưỡng này rất cao. Tuy nhiên, ý tưởng là một chuyện. Làm hồ sơ trình UNESCO là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng.

    Vẫn bị coi là loại hình nghệ thuật nhạy cảm

    Theo GS, làm thế nào để nghi lễ này trở về đúng nghĩa của nó?

    Không có một thứ tôn giáo tín ngưỡng nào dạy con người làm điều xấu cả. Chỉ có người ta lợi dụng nó để làm việc sai trái. Vì thế, không nên “đổ tội” cho nghi lễ hầu đồng. Nếu không có sự biến tướng, lợi dụng hình thức này để tuyên truyền mê tín dị đoan thì bạn có thể thấy, các hình thức hầu đồng chỉ như một cuộc sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng. Bây giờ không chỉ riêng có hầu đồng đâu, mà còn nhiều thứ tôn giáo, tín ngưỡng đã bị lợi dụng. Điều mà tôi muốn nhấn mạnh đó là vấn đề con người và thái độ. Nếu hầu đồng được công nhận là di sản cũng là việc làm tốt, dựa vào đó để xây dựng một hành lang pháp lý, bài trừ tiêu cực, hướng dẫn tích cực để phát triển theo hướng tốt đẹp.

    Nếu xây dựng hồ sơ hầu đồng, theo ông khoảng bao nhiêu phần trăm cơ hội được công nhận là di sản văn hóa?

    Tôi nghĩ hầu đồng có nhiều cơ hội hơn các di sản phi vật thể khác của Việt Nam. Theo như những gì tôi biết, nhiều học giả trên thế giới thích hầu đồng của chúng ta. Đã từng có cuộc hội thảo quốc tế về đạo Mẫu và hầu đồng năm 2001 tại Hà Nội. Vào năm 1996, bên lề hội thảo quốc tế, một cuộc hầu đồng đã được tổ chức tại phủ Tây Hồ. Nhiều nhà nghiên cứu quốc tế, sau khi chứng kiến nghi lễ hầu đồng đã phải thốt lên rằng: “Tôi sẽ nhớ mãi cái đêm huy hoàng này!”. Thế nhưng cho tới nay, dù hầu đồng đã được nhìn nhận lại, nhưng nó vẫn là loại hình nghệ thuật nhạy cảm. Do vậy, tốt hơn là vẫn phải nghiên cứu làm sáng rõ hơn những giá trị của hầu đồng, tạo nên sự đồng thuận xã hội, trước khi tôn vinh nó ở phạm vi quốc tế.

Báo Nông nghiệp VN